Diễn đàn Trí thức
(Đăng lúc: 15/01/2016 04:22:14 PM)
Đổi mới chính sách phát triển giáo dục và đào tạo từ những bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc
Phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong chính sách phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng nhất.

 Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chứng kiến Lễ ký kết hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chứng kiến Lễ ký kết hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc.

Việt Nam là nước có nguồn nhân lực lớn với tỉ lệ người từ 15 tuổi trở lên chiếm khoảng 92% năm 2013[1].  Mặc dù, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực không ngừng được nâng cao, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động trong nước cũng như quốc tế nhất là  trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng và sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật hiện nay.  

Vì vậy, đổi mới chính sách phát triển giáo dục và đào tạo nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực Việt nam là một tất yếu khách quan. Trên con đường đổi mới chính sách giáo dục và đạo tạo, việc tham khảo các mô hình thành công của các nước có điều kiện tương đồng Việt Nam như Hàn quốc trở nên vô cùng cần thiết.

Thực trạng giáo dục-đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam

Đảng và chính phủ luôn coi công tác giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu do đó không ngừng hoàn thiện chính sách giáo dục đào tạo. Ban hành và sửa đổi Luật Giáo dục vào các năm 1998, 2005, 2009. Các chương trình cải cách giáo dục nhằm thay đổi cấu trúc hệ thống giáo dục phổ thông được thực hiện liên tục như: thay đổi số năm học trường phổ thông lên 12 năm; cho phép tư nhân tham gia vào giáo dục đào tạo. Thay đổi phương thức thi tốt nghiệp phổ thông và thi tuyển sinh đại học; thay đổi cách phân loại trình độ cử nhân, kỹ sư, thạc sỹ, tiến sỹ; đánh giá môn học theo tín chỉ v.v.  “Chương trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo.” đang được Bộ giáo dục và đào tạo tiến hành để đến 2020 Việt Nam có một hệ thống giáo dục chuẩn mực .

Với quy mô giáo dục đào tạo phát triển nhanh, khiến cho các cơ sở giáo dục đại học bùng nổ và hướng đến thương mại hóa giáo dục đại học. Hệ thống trường, cơ sở dạy nghề cũng phát triển mạnh dưới nhiều hình thức như trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, các cơ sở dạy nghề tư nhân. Nhu cầu giáo dục- đào tạo tăng nhanh khiến cho ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục cũng tăng nhanh, từ 15% năm 2001 lên 20% tổng chi ngân sách từ năm 2007 đến nay.[2] Với sự đầu tư đó Việt nam đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010; đang tiến tới phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; củng cố và nâng cao kết quả xóa mù chữ cho người lớn. Cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, học sinh là dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ 12,35% năm học 2000-2001 tăng lên 16.32% năm 2012-2013 so với tổng số học sinh; các đối tượng chính sách; cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo.

Tuy nhiên, chất lượng giáo dục và đào tạo phần lớn là thấp chưa tương xứng với sự phát triển nhanh về mặt số lượng. Chất lượng nguồn nhân lực chưa được nâng cao tương xứng với chi phí  của gia đình, nhà nước và xã hội cho giáo dục và đào tạo. Hiện tượng điểm số cao nhưng chưa đánh giá đúng trình độ. Tỉ lệ giảng viên có học hàm học vị cao nhưng chất lượng thấp, chưa ngang bằng với các nước trên thế giới, số lượng các bài báo đăng tạp chí khoa học quốc tế gần như thấp nhất thế giới. So sánh với các nước trong vùng, cho thấy số công trình khoa học đăng ở các tạp chi quốc tế ở nước ta thuộc vào hàng thấp nhất: chỉ bằng khoảng 1/5 số bài báo từ Thái Lan (n = 14.594), 1/3 Mã Lai (n = 9742), 1/14 Singapore (n = 45.633), và thấp hơn Nam Dương (n = 4.389) và Phi Luật Tân (n = 3901)[3]. Nguồn nhân lực được đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường lao động trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng và phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật. Tỉ lệ  sinh viên tốt nghiệp đại học không có việc làm và có việc làm không đúng chuyên ngành đào tạo cao: quý I năm 2014, cả nước có tới 162.000 lao động có trình độ đại học và trên đại học thất nghiệp. quý II năm 2014 có 147.000 lao động có trình độ đại học trở lên thất nghiệp trong tổng số hơn 871.000 người trong độ tuổi lao

động thất nghiệp.[4] Trong khi nhu cầu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao đang ngày càng tăng lên . Học sinh tốt nghiệp các trường nghề thiếu kĩ năng nghề không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Hầu hết lao động được tuyển dụng đều phải đào tạo lại mới đáp ứng được yêu cầu của công việc. Thu nhập từ việc làm thấp (tiền lương thấp) do năng suất lao động thấp (năng suất lao động của Việt Nam năm 2013 thuộc nhóm thấp nhất Châu Á – Thái Bình Dương, thấp hơn Singapore, Nhật và Hàn Quốc lần lượt là 15 lần, 11 lần và 10 lần)[5]. Tiền lương thu nhập thấp, không thu hút được nguồn nhân lực được đào tạo tốt, hiện tượng chảy máu chất xám xảy ra phổ biến.

Nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng giáo dục của Việt Nam thấp là do: Thứ nhất, giải pháp thực hiện chưa mang tính chiến lược, chưa đồng bộ, chưa phù hợp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật nên mục tiêu đề ra chưa đạt được. Chính sách phát triển giáo dục, chưa tạo ra được cơ chế cạnh tranh về chất lượng giáo dục đào tạo giữa các trường trong hệ thống các cơ sở giáo dục. Thứ hai, giáo dục đào tạo chưa gắn chặt chẽ với yêu cầu của thị trường. Các kỹ năng cần thiết của các ngành nghề thực tế, đào tạo ở các cơ sở đào tạo chưa đáp ứng được do thiếu trang thiết bị đào tạo, trình độ giáo viên chưa đáp ứng. Thứ ba, việc sử dụng nguồn nhân lực đã được đào tạo của Việt Nam chưa hiệu quả; mặc dù công tác tuyển dụng được cải thiện nhưng thực tế chính sách tuyển dụng chưa minh bạch nhất là đối với khu vực nhà nước. Thứ tư, công tác quản lý giáo dục đào tạo kém hiệu quả. Cách đánh giá thành tích các cơ sở giáo dục, các viện nghiên cứu còn mang tính hình thức. Việt Nam chưa có trường, cơ sở đào tạo nào được xếp hạng quốc tế. Chưa có hệ thống chỉ tiêu đánh giá phù hợp với yêu cầu thực tế.

Kinh nghiệm Hàn Quốc

Những năm 40 của thế kỷ trước, Hàn quốc còn là đất nước có nền kinh tế kém phát triển, nền giáo dục với chất lượng kém nhất thế giới nhưng với chính sách đổi mới toàn diện  mạnh mẽ và đúng đắn, giờ đây Hàn Quốc đã trở thành một nước phát triển nhất ở châu Á và trở thành hình mẫu cho nhiều nước đang phát triển như Việt Nam học tập.

Một trong những nhân tố quyết định sự thành công của con giồng Hàn Quốc là đã không ngừng nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, thông qua đổi mới chính sách giáo dục đào tạo và chính sách sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Vào những năm 1940’s nền giáo dục và đào tạo của Hàn Quốc cũng mở rộng nhanh nhất thế giới, dẫn đến hệ luỵ chất lượng giáo dục không được nâng cao tương xứng. Các cơ sở giáo dục-đào tạo chỉ chăm chăm mở rộng về số lượng học sinh và tăng học phí mà quên đi chất lượng giáo dục và đào tạo. Nó dẫn đến việc mất cân đối cung cầu trên thị trường lao động. Sinh viên ra trường không kiếm được việc làm vì không đáp ứng được các yêu cầu của nhà tuyển dụng. Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao không khác Việt Nam hiện nay. Trước tình hình đó, Hàn Quốc đã thực hiện  giải pháp đa dạng hoá giáo dục, tăng dạy thêm ở trường/ cơ sở giáo dục đào tạo công lập để giảm chi phí  học thêm của các em học sinh tại các cơ sở tư nhân. Song song với nó là nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên và các cơ sở  nghiên cứu .

Tiếp đến, Hàn Quốc tiến hành gắn kết giáo dục đào tạo với phát triển kinh tế xã hội thông qua gắn kết chặt chẽ các cơ sở đào tạo với các cơ sở công nghiệp nhằm đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và giảm chi phí đào tạo đáp ứng yêu cầu của giai đoạn công nghiệp hoá.

Song song thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tao, Hàn Quốc thực hiện triết lý “bắt kịp” để đảm bảo chất lượng giáo dục Hàn Quốc bắt kịp với những với sự phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế trên thế giới. Thời kỳ kinh tế tri thức, Hàn Quốc thực hiện giải pháp phát triển ngành nghề đòi hỏi chất xám cao để bắt kịp thời đại nhằm phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật. Đồng thời với những chiến lược đổi mới trên, Hàn Quốc còn chú trọng đến xây dựng các tiêu chí đánh giá kết quả giáo dục-đào tạo và phát triển hệ thống kiểm định giáo dục độc lập để đánh giá chính xác trình độ, tay nghề của sinh viên và chất lượng của cơ sở đào tạo mà dựa vào đó xây dựng các giải pháp phù hợp trình độ quốc tế.

Những bài học về đổi mới chính sách giáo dục –đào tạo của Hàn Quốc nói trên có thể áp dụng đối với Việt Nam.  Đặc biệt cần quán triệt một cách triệt để nguyên lý “ bắt kịp” của Hàn Quốc trong tiến trình hội nhập quốc tế về giáo dục đào tạo đó là luôn áp dụng những  tiến bộ KH&CN trong giáo dục đào tạo và tập trung đào tạo các ngành nghề thời thượng,  chất lượng cao để đáp ứng các thay đổi của thị trường lao động  trong nước cũng như quốc tế. Cho dù bối cảnh đổi mới giáo dục, đào tạo của Việt Nam hiện nay khác với bối cảnh của Hàn Quốc ở những năm 40 của thế kỷ trước, nhưng những giải pháp sau đây cần phải thực hiện khẩn truơng và đồng bộ :

  • Thay đổi toàn diện giáo trình đào tạo bao gồm cả nội dung và phương pháp giảng dạy theo chuẩn quốc tế và hướng theo thị trường
  • Nâng cao chất lượng giáo viên, trang thiết bị dạy học và áp dụng hệ thống kiểm định đánh giá chất lượng giáo dục độc lập. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.  
  • Trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục-đào tạo. Gắn cơ sở giáo dục, đào tạo với doanh nghiệp.
  • Tăng cường hợp tác quốc tế trong giáo dục đào tạo, khuyến khích liên doanh liên kết và đầu tư nước ngoài vào giáo dục đào tạo

Chỉ khi các giải pháp này được thực thi nghiêm túc thì mới mong có được hệ thống giáo dục đào tạo hiện đại, đủ sức cạnh tranh và hội nhập quốc tế trong thập kỷ tới.

[1] Tổng cục thống kê.báo cáo điều tra, Lao động Xã hội,quý III năm 2013

[2] http://unesdoc.unesco.org/images/0023/002327/232770vie.pdf

[4] Theo Bộ Lao động, thương binh và Xã hội

[5] Theo số liệu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)

 
Tác giả bài viết: Th.S. Nguyễn Thị Thanh Hà - Viện Khoa học Lao động và Xã hội

THÔNG BÁO
VIDEO NHÚNG
LIÊN KẾT WEB
DANH NGÔN KHOA HỌC
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 627911
Đang trực tuyến: 78