Hội thảo Tư vấn, phản biện và giám định xã hội Dự thảo Báo cáo chính trị
trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX
1. Về chủ đề Đại hội XIX:
Thống nhất bỏ cụm từ “và hệ thống chính trị” bởi vì, việc “xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh” là nhiệm vụ đã có tiêu chí đánh giá, quy định rõ ràng; hàng năm cấp ủy đảng các cấp đều có kiểm điểm, đánh giá, bình xét, khen thưởng… Tiêu chí “trong sạch, vững mạnh” ngoài ý nghĩa thông thường nói đến tổ chức và đảng viên “trong sạch” về phẩm chất, đạo đức lối sống, không tham nhũng, tiêu cực…, còn có ý nghĩa về quan điểm, lập trường tư tưởng, kiên định với đường lối, không “đổi màu” chính trị; trung thành tuyệt đối với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong khi đó khi đề cập đến “hệ thống chính trị”, lại có ý nghĩa về tập hợp các lực lượng, trong đó bao gồm đoàn kết các dân tộc, giai cấp, tôn giáo, các thành phần kinh tế… và trên thực tế chưa có tiêu chí để xác định “trong sạch” là như thế nào? Bên cạnh cũng thống nhất bỏ cụm từ “nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” vì sẽ thể hiện trong mục tiêu tổng quát.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia tham dự hội thảo đề nghị mạnh dạn bỏ từ “toàn diện” thay bằng cụm từ “nhanh, bền vững” trong câu “phát triển toàn diện và đồng bộ kinh tế-xã hội”, bởi vì dựa vào các căn cứ lý luận và thực tiễn như sau:
Một là: Chủ đề Đại hội là kết tinh, cô đọng những vấn đề cốt lõi nhất và nhất thiết phải thống nhất về chủ trương, quan điểm với mục tiêu tổng quát, trong khi đó mục tiêu tổng quát lại viết: “phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đồng bộ với phát triển văn hóa- xã hội”. Như vậy, tiêu đề Đại hội như trên đã “vênh” không đồng nhất về chủ trương, quan điểm với mục tiêu tổng quát?.
Hai là: Nội dung về “Phương hướng, nhiệm vụ; Định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế” trong dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng có nêu rõ: “Mô hình tăng trưởng trong thời gian tới kết hợp hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh trên cơ sở nâng cao năng suất lao động…”, và “phát triển nhanh và bền vững; giải quyết hài hòa giữa mục tiêu trước mắt và lâu dài, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thân thiện với môi trường, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Điều đó có thể thấy chủ trương, định hướng phát triển nền kinh tế nước ta trong giai đoạn 2016-2020 sẽ là: chuyển hướng từ phát triển theo chiều rộng trước đây, dần dần sang phát triển theo chiều sâu, nên việc đề nghị bỏ từ “toàn diện” thay bằng từ “nhanh, bền vững” là hoàn toàn hợp lý và đúng đắn, phù hợp với chủ trương của Đảng ta và mục tiêu tổng quát của nhiệm kỳ XIX Đảng bộ tỉnh đã đề ra. Mặt khác, chủ đề Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng dự thảo viết: “ Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới” có nội dung, ý nghĩa hoàn toàn khác với câu: “phát triển toàn diện và đồng bộ kinh tế-xã hội” tại dự thảo Báo cáo chính trị của Tỉnh ủy.
Ngoài ra, có nhiều ý kiến cho rằng: đề nghị thay dấu (,) sau cụm từ “giữ vững quốc phòng, an ninh”. Đây là việc thay đổi quan trọng bởi vì chủ đề là một câu ghép, bao gồm nhiều mệnh đề được phân cách bằng các dấu chấm phảy (;) mà ở đây “giữ vững quốc phòng, an ninh” là nhiệm vụ chiến lược quan trọng nên cần phân cách với nhiệm vụ “xây dựng nền tảng để sớm đưa tỉnh ta cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại”.
Như vậy chủ đề Đại hội XIX sẽ được viết lại như sau: “Tiếp tục xây dựng Đảng bộ thật sự trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân; phát triển nhanh, bền vững và đồng bộ kinh tế- xã hội; giữ vững quốc phòng, an ninh; xây dựng nền tảng để sớm đưa tỉnh ta cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại”.
2. Về mục tiêu tổng quát:
2.1. Thống nhất cao như Dự thảo và bỏ cụm từ “và hệ thống chính trị” như đã phân tích ở trên và các chuyên gia các lĩnh vực chuyên ngành đã đề cập làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn đối với một số nội dung được nêu trong mục tiêu tổng quát như sau:
a) Về phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đồng bộ với phát triển văn hóa- xã hội chính là xuất phát từ quan điểm của Đảng ta về: “Phát triển bền vững, tăng trưởng nhanh về kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai. Phát triển bền vững là cơ sở để cho tăng trưởng nhanh kinh tế, tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ tạo nguồn lực cho phát triển bền vững, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; đây là các mối quan hệ biện chứng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.”.
b) Về vấn đề thể hiện trong cách dùng “từ” trong mục tiêu tổng quát của nhiệm kỳ XVIII đã viết: “đến năm
- Trên bình diện cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, nếu so sánh một cách sơ bộ với các bộ tiêu chí áp dụng cho một nước hoàn thành công nghiệp hóa mà các nhà khoa học, học giả kinh tế thế giới và Việt Nam đã đề xuất thì cả Việt Nam và tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 (theo số liệu dự báo hoặcquy hoạch, kế hoạch) đều có nhiều tiêu chí rất khó đạt và không đạt. Đấy là một thực tế, do đó trong Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tại điểm 2-, Mục III-, trang 22, có đặt ra nhiệm vụ trong nhiệm kỳ XII của Đảng là: “Xác định hệ tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại”; điều đó đồng nghĩa với việc trong nhiệm kỳ XII, Đảng ta sẽ phải xây dựng và hoàn thành hệ tiêu chí nước công nghiệp Việt Nam và đây là cơ sở đề đặt ra mục tiêu về thời gian là lúc nào? (năm nào?) Việt Nam sẽ cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
- Tỉnh Quảng Ngãi cũng sẽ không ngoại lệ và cũng phải xây dựng được hệ tiêu chí tỉnh công nghiệp Quảng Ngãi. Song có điều là tỉnh ta tự xác định hệ tiêu chí tỉnh công nghiệp riêng cho tỉnh Quảng Ngãi hay áp dụng hệ tiêu chí chung cả nước về tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại? và có đưa nội dung này vào Dự thảo Báo cáo chính trị hay không? là vấn đề cũng cần Tỉnh ủy Quảng Ngãi nghiên cứu, cân nhắc. Tuy nhiên, đa số các chuyên gia thống nhất rất cao dùng khi từ “sớm” là chính xác, vì tỉnh ta nhiệm kỳ tới cần phải nhanh chóng và quyết liệt để sớm trở thành tỉnh công nghiệp, chống nguy cơ tụt hậu, nếu càng đi sau, càng tụt hậu thì càng phải trả giá đắt cho tiến trình công nghiệp hóa của tỉnh nhà trong các giai đoạn tiếp theo.
2.2. Đề nghị thay dấu (,) sau cụm từ “giữ vững quốc phòng, an ninh” bằng dấu (;) như đã lập luận làm rõ tại Mục 2. Về chủ đề Đại hội XIX ở trên.
3. Về các chỉ tiêu chủ yếu:
3.1. Về chỉ tiêu 2.9. tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 55% thì tuyệt đại đa số chuyên gia cho rằng là tương đối thấp, bởi vì ở đây phải chăng có sự lẫn lộn giữa tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề với tỷ lệ lao động qua đào tạo. Có thể làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề này như sau:
+ Ở phần đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XVIII có viết “lao động qua đào tạo nghề năm 2015 đã đạt 45%” (trang 12, Dự thảo báo cáo chính trị) và nếu cộng với số lao động qua đào tạo khác như trung cấp, cao đẳng, đại học…cộng dồn từ trước đến năm 2015 thì tỉnh ta ít nhất cũng đã đạt được 55% tỷ lệ lao động qua đào tạo rồi [theo các số liệu báo cáo của Sở LĐTB&XH tỉnh về tỷ lệ lao động qua đào tạo và (tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề) của tỉnh Quảng Ngãi qua các năm gần đây tương ứng: Năm 2010 là: 33,02% và (27,8%), 2011 là: 39,5% và (30,5%), 2012 là: 43,5% và (34%), 2013 là: 47,6% và (37%), 2014 là 51% và (41%); năm 2015 là: 55% và (45%)]. Như vậy, mức chênh lệch giữa tỷ lệ lao động qua đào tạo và tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề thường khoảng 10% nên đa số các chuyên gia kiến nghị nên điều chỉnh chỉ tiêu này là: Đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo là 65% là phù hợp và khả thi.
+ Mặt khác, nếu tham khảo chỉ tiêu này của cả nước đặt ra đến năm 2020 thì tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65-70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25-26% (nêu ở trang 17, Mục II, điểm 2. Mục tiêu và nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước trong 5 năm tới trong Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng). Ngoài ra, có ý kiến đề nghị cũng cần xem lại con số chỉ tiêu: trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 80-85% là trên cơ sở nào?, cả nước chỉ đạt 25-26% mà thôi.
3.2. Về chỉ tiêu 2.11. tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,92% có một số chuyên gia cho rằng đây là chỉ tiêu tương đối thấp vì trong thời gian qua theo số liệu của Cục thống kê tỉnh là: Năm 2011 thực hiện 0,867%, 2012 thực hiện 0.863%, 2013 thực hiện 0,854%, 2014 thực hiện 0,849% và đối với năm 2015 tại Dự thảo Báo cáo chính trị, trang 14, điểm 2.5 đã viết: “Năm 2015, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,82%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết XVIII đề ra là 0,92% vào năm 2015”. Đại hội lần thứ XIX vẫn lặp lại y như cũ đối với chỉ tiêu này, chẳng lẽ thấp hơn so với nhiệm kỳ trước hay sao?.Tuy nhiên, các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên ngành y tế đã đưa ra luận cứ về cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đặt ra chỉ tiêu: “Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh Quảng Ngãi vào năm 2020 là 0,92%” như sau:
Về công thức tính chỉ tiêu là:
INR = CBR - CDR , trong đó:
INR = Incra Nature Rate : Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (‰ - %);
CBR = Crude Birth Rate : Tỷ suất sinh thô (‰ hoặc %);
CDR = Crude Death Rate : Tỷ suất chết thô (‰ hoặc %).
Như vậy, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là hiệu số của tỷ suất sinh thô và tỷ suất chết thô. INR cao hay thấp thì phụ thuộc rất lớn của 2 chỉ số CBR và CDR, chứ không phụ thuộc vào một chỉ số. Nếu như CBR không giảm nhưng chỉ số CDR tăng thì chỉ số INR giảm; CBR không giảm mà CDR giảm thì INR tăng. Nếu CBR giảm và CDR giảm tương ứng thì INR không thay đổi; CDR tăng thì INR giảm. Tương tự, nếu CBR tăng và CDR giảm thì INR càng tăng.
Năm 2009 :
INR(0,965%) = CBR(1,585%) - CDR(0,620%);
Năm 2014 :
INR(0,849%) = CBR(1,480%) - CDR(0,631%);
Về dự báo trong giai đoạn tới (2016-2020): Khi mà tỉnh Quảng Ngãi đã đạt đến mức sinh thay thế số con bình quân của phụ nữ ≈ 2,1 con thì tỷ suất sinh thô CBR rất ít giảm (hầu như không giảm), thậm chí có thể tăng nhẹ; đồng thời các lĩnh vực kinh tế - xã hội phát triển thì cũng góp phần làm tỷ suất chết thô CDR giảm. Điều này có thể dẫn đến INR tăng, nên việc đề ra chỉ tiêu: Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 là 0,92% là phù hợp.
4. Về các nhiệm vụ chủ yếu:
Tại Điểm 1.3, trang 32 viết: “Phát triển dịch vụ, du lịch và kinh tế biển, đảo là nhiệm vụ trọng tâm” thì đa số thống nhất, tuy nhiên các chuyên gia cho rằng nếu nhìn vào tổng thể về 3 nhiệm vụ đột phá và 3 nhiệm vụ trọng tâm như Dự thảo báo cáo chính trị đặt ra là đã bao quát toàn bộ các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trong giai đoạn tới của tỉnh, trong đó bao gồm 3 nhóm ngành trong cơ cấu kinh tế là: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và thêm nhiệm vụ đột phá về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; Về mặt xã hội các nhiệm vụ đột phá và trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực và cải cách hành chính. Như vậy, có thể làm cho mọi người có cảm giác là các nhiệm vụ đột phá, trọng tâm quá nhiều, quá dàn trải, có rất nhiều mũi nhọn như “quả mít” vậy, có thể làm ảnh hưởng cho việc cân đối nguồn lực của tỉnh vốn rất hạn hẹp, nhỏ bé, nên khó đạt được những mục tiêu kỳ vọng đề ra. Từ đó, các chuyên gia đề nghị nghiên cứu bỏ từ “dịch vụ” và viết lại thành câu: “Phát triển du lịch và kinh tế biển, đảo là nhiệm vụ trọng tâm” thì sẽ có cảm giác “nó” nhẹ nhàng, thanh thoát hơn rất nhiều. Tất nhiên, như vậy không có nghĩa là không chú trọng phát triển ngành dịch vụ trong giai đoạn tới, nhưng “phát triển dịch vụ” thực sự đã ẩn chứa trong quá trình phát triển công nghiệp, du lịch và kinh tế biển, đảo./.
TS- Nguyễn Kim Hiệu - Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh Quảng Ngãi
(Theo Bản tin Khoa học và Đời sống số 3/2015)