Kết quả sáng tạo với danh hiệu thi đua và khen thưởng ở các tỉnh, thành phố.
Các văn bản Luật và quy phạm pháp luật hiện hành chủ yếu của nhà nước về TĐKT gồm có: Luật TĐKT năm 2003, các luật sửa đổi bổ sung năm 2005, 2009, 2013; Các nghị định của Chính phủ số 42/2010, số 39/2012, số 65/2014;

các thông tư của Bộ Nội vụ số: 02/2011, số 07/2014. Tiêu chí xét các danh hiệu và tiêu chí xét khen thưởng càng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Đáng chú ý là, kết quả hoạt động sáng tạo (sáng kiến, công trình khoa học, nghệ thuật, phát minh, sáng chế...) đã trở thành một trong những tiêu chí quan trọng để xét công nhận cho nhiều danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng...Cụ thể, các danh hiệu thi đua cá nhân gồm có( từ thấp đến cao): Chiến sỹ thi đua cơ sở, Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh, chiến sỹ thi đua cấp bộ ngành và tương đương, chiến sỹ thi đua toàn quốc; Các hình thức khen thưởng từ thấp đến cao gồm có: bằng khen  của UBND tỉnh, bằng khen của bộ, ban ngành  đoàn thể Trung ương, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Huân chương lao động( Hạng ba, Hạng nhì, Hạng nhất), Anh hùng lao động, Huân chương bảo vệ tổ quốc( Hạng ba, Hạng nhì, Hạng nhất);  Các danh hiệu do nhà nước phong tặng: Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc ưu tú, Thầy thuốc nhân dân.... Bắt đầu danh hiệu thi đua từ cấp chiến sỹ cơ sở trở lên, bắt đầu hình thức khen thưởng từ bằng khen UBND tỉnh trở lên đều đòi hỏi phải có sáng kiến hoặc công trình khoa học. Cấp danh hiệu càng cao, cấp khen thưởng càng cao thì giá trị và tầm ảnh hưởng của sáng kiến, công trình khoa học đòi hỏi càng phải lớn, và phải được Hội đồng cấp tương ứng công nhận. Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở là nguồn để xét công nhận  ở cấp cao hơn( theo tuần tự phải 02 lần đạt chiến sỹ thi đua cấp cơ sở mới được xét chiến sỹ thi đua cấp tỉnh; phải 02 lần đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp tỉnh mới xét danh hiệu chiến sỹ thi đua toàn quốc...). Nhưng điểm mới quan trọng là trước đây không khống chế tỷ lệ chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, còn từ năm 2014 trở đi, tỷ lệ chiến sỹ thi đua cấp cơ sở được khống chế không quá 15% số lao động tiên tiến.

Theo quy định mới đây tại Nghi định 56/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ, kết quả hoạt động sáng tạo cũng là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức hàng năm.  Cán bộ, công chức, viên chức muốn được xếp loại suất sắc thì  phải đạt các tiêu chí quy định, trong đó phải có sáng kiến, đề tài, đề án  được áp dụng có hiệu quả và được cấp có thẩm quyền công nhận. ( Cán bộ, công chức viên chức suất sắc không khống chế về tỷ lệ/tổng số CBCCVC).

Hướng dẫn mới số 24/HD-TCTW ngày 06  tháng 7 năm 2014 của Ban tổ chức Trung ương) cũng gián tiếp quy định sáng kiến, đề tài, đề án cũng là một trong những tiêu chí để phân loại đảng viên hàng năm. Đảng viên xuất sắc phải được bình chọn trong số đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức xuất sắc hoặc chiến sỹ thi đua cơ sở( những danh hiệu đòi hỏi phải có sáng kiến, đề tài...). Mặt khác, tỷ lệ đảng viên suất sắc không quá 15%/tổng số đảng viên hoàn thanh tốt nhiệm vụ, trường hợp chi bộ hoàn thành đặc biệt suất sắc nhiệm vụ, có thể nâng lên 20%.

Thực ra, trong khi không kiểm soát được số lượng  đang có xu hướng lạm phát, việc đưa ra một tỷ lệ nào đó để khống chế là cần thiết. Còn cơ sở khoa học có lẽ còn phải bàn và còn phải chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, được khống chế tối đa 15%/tổng lao động tiên tiến và đảng viên xuất sắc cũng được khống chế tối đa 15%/tổng số đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nhưng CBCCVC xuất sắc lại không bị khống chế tỷ lệ, cũng là điều chưa đồng bộ.

Tiêu chí quy định trong các băn bản của đảng và nhà nước ( cấp Trung ương) chủ yếu là tiêu chí định tính. Trung ương yêu cầu các cấp, các ngành, các đơn vị cụ thể hóa thành tiêu chí phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc của từng nơi. Các tỉnh, thành phố cũng chỉ đạo, yêu cầu các cấp, các ngành, các đơn vị trong tỉnh cụ thể hóa với tinh thần tương tự. Nhưng, trước năm 2014, rất ít đơn vị vận dụng quy định cụ thể làm căn cứ để kiểm soát mức dộ hoàn thành khối lượng công việc. Định lượng mức độ năng xuất, hiệu quả càng ít nơi xác định.  Dẫn đến gần như 100% cán bộ, công chức, viên chức đạt danh hiệu lao động tiên tiến, hoàn thành tốt và suất sắc nhiệm vụ. Các danh hiệu thi đua cao hơn, khen thưởng cao hơn, có thể nói cũng lạm phát.  Trong lúc đó, dư luận lại cho rằng, tinh thần, thái độ làm việc của CBCCVC có vấn đề, phải đến 30%  làm việc kém  hiệu quả, nếu không muốn nói chủ yếu là “cắp ô đi, cắp ô về”. Chúng ta đều biết rằng, Chỉ số năng lực cạnh tranh PCI là trạng thái cảm nhận của cộng đồng doanh nghiệp đối với quản trị và hành chính công cấp tỉnh do Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam VCCI công bố. Chỉ số Papi Index là trạng thái cảm nhận của người dân đối với quản trị và hành chính công cấp tỉnh do Trung tâm Nghiên cứu phát triển-Hỗ trợ cộng đồng (CECODES), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Ban Dân nguyện thuộc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội công bố. Chỉ số CCHC Par Index do Bộ Nội vụ công bố. Ba chỉ số đó của phần lớn các tỉnh, thành phố mới ở mức trung bình và thấp, thấp nhất là chỉ số về xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCCVC( đạt trên dưới 60% điểm tối đa).  Ngày 07/4/2014, Bộ Chính trị  ban hành chỉ thị số 34-CT/TW về tiếp tục đổi mới thi đua khen thưởng. Một trong những vấn đề Chỉ thị yêu cầu là phải khắc phục tình trạng khen thường tràn lan, thiếu chính xác, không thực chất, làm hạn chế động lực phấn đấu của tập thể và cá nhân.  Câu hỏi đặt ra là, cùng một văn bản, cùng một hệ thống tiêu chí  do nhà nước quy định, nhưng mức độ xét công nhận  danh hiệu thi đua giữa các địa phương rất khác nhau. Các tỉnh có quy mô dân số trên dưới 1 triệu,  tỉnh ít hàng năm con số chiến sỹ thi đua cấp cơ sở  cũng đạt tới con số hàng trăm, chiến sĩ thi đua cấp tỉnh cũng đạt tới  tới con số hàng chục; Tỉnh nhiều, chiến sỹ thi đua cấp sở đạt tới hàng ngàn, chiến sỹ thi đua cấp tỉnh đạt tới hàng trăm. Vấn đề làm cho người ta băn khoăn là, danh hiệu chiến sĩ thi đua và khen thưởng  thuộc về các chức danh lãnh đạo các cấp, các ngành, đơn vị  chiếm tỷ lệ rất cao, và tỷ lệ này giữa các tỉnh cũng lại khác nhau. Có tỉnh  thẩm định sáng kiến tương đối chặt chẽ. Có tỉnh  lại coi Chỉ thị của cấp uy, chính quyền, văn bản của địa phương cụ thể hóa văn bản của Trung ương, bài phát biểu của lãnh đạo cũng  sáng kiến để xét danh hiệu thi đua, chủ sáng kiến là một nhóm tác giả soạn thảo, thẩm định, phê duyệt. Những vấn đề tương tự  đã được báo chí đề cập khá nhiều.

Gần đây, cuối năm 2014, đầu năm 2015, UBND các tỉnh, thành phố đều  căn cứ Nghị định số 65/2014 của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn số 07/2014 của Bộ Nội vụ để lần lượt ban hành mới quy chế thi đua khen thưởng. ( Các quy chế này đều đã được tải lên mạng Internet). Quy định mới của các tỉnh, thành phố hoàn thiện và chặt chẽ hơn. Trong đó, có một điểm mới( quy định theo Chính phủ) rất quan trọng là, tỷ lệ chiến sỹ thi đua cấp cơ sở ( nguồn để xét các danh hiệu cao hơn) không quá 15% số lao động tiên tiến.  Nhưng ngay bản thân quy định của các tỉnh, thành phố cũng còn có vấn đề cần được trao đổi. Còn việc thực hiện trong thực tế thế nào lại phụ thuộc rất nhiều vào quy định cụ thể và tổ chức thực hiện của các đơn vị.

Tiêu chí phổ biến nhất là tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ được giao. Lao động tiên tiến( danh hiệu thi đua đầu tiên), Cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ( xếp loại hàng năm) phải  là những người hoàn thành 100% khối lượng công việc, đạt năng suất, chất lượng cao. Đây là nguồn để lựa chọn chiến sỹ thi đua cơ sở, cán bộ, công chức, viên chức xuất sắc( khi đạt thêm tiêu chí có sáng kiến, đề tài...). Nhưng quan trọng là từng đơn vị phải quy định cụ thể làm căn cứ để kiểm soát mức dộ hoàn thành khối lượng công việc và chất lượng, hiệu quả công việc. Nếu không, vẫn là chung chung chi dã, cảm tính, "dễ mình, dễ người", không thực chất ngay từ danh hiệu thi đua đầu tiên.

Tiêu chí có sáng kiến hay đề tài ( số lượng tối thiểu) đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp là phải phấn đấu. Nhưng đối với các tổ chức khoa học( các trung tâm, các viện nghiên cứu), các trường đại học...thì lại bình thường, vì chức năng nhiệm vụ chính của họ là nghiên cứu, hay đào tạo gắn với nghiên cứu. Do đó, đối với các tổ chức khoa học công nghệ và các trường đại học cần cụ thể, đặt ra  ở mức cao hơn mới phù hợp và công bằng.

Quy định  hiện hành mới ban hành của các tỉnh, thành phố về tiêu chí sáng kiến, đề tài khoa học có sự khác biệt đáng kể. Trung ương quy định sáng kiến hay đề tài nghiên cứu khoa học phải được áp dụng, mang lại hiệu quả thiết thực, có giá trị và tầm ảnh hưởng tương ứng với cấp    cơ sở, cấp tỉnh, cấp bộ, cấp toàn quốc, và phải được cấp có thẩm quyền tương ứng công nhận. Nhưng các tỉnh, thành phố vận dụng với các cấp độ như sau:

Sáng kiến.

Sáng kiến phải được hiểu là sáng kiến theo quy định tại Nghi định số 13/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ ban hành Điều lệ sáng kiến. Về điểm này, có tỉnh quy định rõ ràng, mạch lạc, có tỉnh lại chưa rõ ràng.  Sáng kiến để xét danh hiệu thi đua  cần được hiểu thống nhất,  đó là giải pháp kỷ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp, giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật( gọi chung là giải pháp). Điểm then chốt là gỉải pháp phải có tính mới và tính hiệu quả.Tính mới là thông tin liên quan chưa bộc lộ trong sách báo, tài liệu, không trùng với giải pháp của người khác....  Nhiều đơn vị từ trước đến nay  xuê xoa, dễ giải, không thẩm định, đánh giá  chặt chẽ, dẫn đến số lượng chiến sỹ thi đua  bị làm phát ngay từ cấp cơ sở.

 Chiến sỹ thi đua.

- Có một số tỉnh quy định: Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở: Có sáng kiến hoặc tham gia đề tài khoa học cấp tỉnh được nghiệm thu đạt loại trung bình. Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh: Có sáng kiến hoặc tham gia đề tài cấp tỉnh được nghiệm thu đạt loại khá trở lên.

Quy định tiêu chí như vậy là quá mở, có phần dễ dãi, lạc hậu, không cập nhật, thấp hơn tiêu chí do trung ương quy định. Chúng ta biết, trước đây, đề tài khoa học cấp tỉnh được nghiệm thu đạt loại khá trở lên là đủ điều kiện để Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xét cấp bằng lao động sáng tạo. Nhưng mấy năm gần đây, cho dù đề tài được nghiệm thu xếp loại xuất sắc cũng không đủ điều kiện, nếu chưa được ứng dụng mang lại hiệu quả thiết thực, có triển vọng được mở rộng... Vấn đề chủ yếu không phải có sáng kiến hay tham gia đề tài, mà là sáng kiến hay đề tài phải được ứng dụng vào thực tế,  mang lại hiệu quả thiết thực, có giá trị  nhiều hay ít, và tầm ảnh hưởng rộng hay hẹp, phải được cấp có thẩm quyền( hội động cơ sở, hội đồng cấp tỉnh) công nhận.  Hơn nữa, một đề tài cấp tỉnh thường có trên dưới 10 người tham gia. Ngoài chủ nhiệm ra, ai là người xứng đáng được xét, cần có tiêu chí cụ thể, nếu không sẽ tiếp tục bị lạm dụng, ghé danh.  Tiêu chí không cụ thể, khi đã đưa ra Hội đồng thì người dễ được công nhận thường là các cấp lãnh đạo.( Đây là nguyên nhân chủ yếu giải thích vì sao các cấp lãnh đạo chiếm tỷ lệ cao về danh hiệu thi đua, khen thưởng)

- Có một số tỉnh quy định tương đối sát với quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Nội vụ. Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở: Có sáng kiến hoặc có đề tài cấp cơ sở được áp dụng ở cơ sở, mang lại hiệu quả, được hội động cấp cơ sở công nhận. Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh: Có sáng kiến hoặc có đề tài cấp tỉnh được áp dụng, có giá trị và mang lại hiệu quả tầm cấp tỉnh, được hội đồng cấp tỉnh công nhận.  Có tỉnh quy định cụ thể  tầm ảnh hưởng của sáng kiến, đề tài cấp tỉnh: Được áp dụng mang lại hiệu quả ít nhất ở 03 đơn vị. Ngoài chủ nhiệm, giới hạn công nhận số người tham gia từ 2-3 ( những người đồng tác giả có đóng góp lớn nhất sau chủ nhiệm)

- Có một số tỉnh quy định mở rộng đối tượng sản phẩm để xét danh hiệu thi đua, khen thưởng.  Ngoài sáng kiến, đề tài khoa học, giải 3 trở lên Hội thi sáng tạo kỹ thuật cấp tỉnh, giải khuyến khích trở lên hội thi sáng tạo kỹ thuật cấp toàn quốc, giải thưởng  sáng tạo khoa học Việt Nam cũng được đưa vào quy định để xét danh hiệu thi đua khen thưởng cấp  tỉnh. Có tỉnh đưa bằng lao động sáng tạo vào quy định. Có tỉnh đưa cả luận án tiến sỹ vào quy định, nếu luận án đó được nghiên cứu và áp dụng có hiệu quả tại địa phương. Quy định mở rộng như vậy là hợp lý.

Chỉ thị số 34-CT/TW  của Bộ Chính trị  có sự chấn chỉnh, tiếp tục đổi mới thi đua khen thưởng, bảo đảm chính xác, thực chất.  Thông báo số 278/TB-VPCP ngày 18/7/2014 của Văn phòng chính phủ  thông báo kết luận của Phó thủ tướng nguyễn Xuân Phúc tại hội nghị toàn quốc triển khai quán triệt và thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh khen thưởng phải bảo đảm tiêu chuẩn. Nhà nước rút kinh nghiệm, khống chế tỷ lệ chiến sĩ thi đua cấp cơ sở không quá 15% /tổng số lao động tiên tiến. Từ năm 2015, cạnh tranh lành mạnh để đạt danh hiệu thi đua sẽ khó khăn hơn, đòi hỏi phải phấn đấu thực chất hơn.  Mức độ chính xác, thực chất phụ thuộc vào việc các đơn vị vận dụng  để quy định  cụ thể ở mức có thể kiểm soát được số lượng và chất lượng công việc. Thu hẹp sự khác biệt trong vận dụng quy định  của cấp tỉnh, thành phố  về sáng kiến, đề tài cấp tỉnh  sẽ bảo đảm sự khách quan, công bằng hơn. 

 

Tác giả bài viết: BBT

Theo Vusta

Các tin, bài khác