Tiến trình công nghiệp hóa của tỉnh Quảng Ngãi - Thành quả 5 năm (2010-2015) và thách thức.
Công cuộc xây dựng xã hội mới phải được tiến hành toàn diện trên các mặt, trong đó, công nghiệp hóa chính là con đường và bước đi tất yếu để tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.

Xây dng cơ s vt cht k thut cho nn sn xut ln hin đi là mt  quy lut chung, ph biến đi vi tt c các nước trên con đường phát trin đi lên xây dng ch nghĩa xã hi. Nước ta tiến lên ch nghĩa xã hi t mt nn kinh tế sn xut nh, lao đng th công là ph biến. Cái chúng ta cn là mt nn sn xut công nghip hin đi. Chính vì vy chúng ta phi tiến hành công nghip hoá, hin đi hoá.

Công nghip hoá nước ta là nhm xây dng cơ s vt cht k thut cho chủ nghĩa xã hi. Đó là nhim v trng tâm trong sut thi k quá đ tiến lên chủ nghĩa xã hi nước ta. S nghip xây dng ch nghĩa xã hi nước ta ch thc s thành công chng nào thc hin thành công s nghip công nghip hoá, hin  đi hoá đt nước.

Cùng vi các đa phương c nước, tnh Qung Ngãi trong nhng năm gn đây đã chuyn sang giai đon đy mnh công nghip hoá, hin đi hoá, phn đu “xây dng nn tng đ sm đưa tnh ta cơ bn tr thành mt tnh công nghip theo hướng hin đi(D tho Báo cáo Chính tr Đi hi Đng b tnh ln th XIX).

Có th gii thích mt cách đơn gin rng: Tnh công nghip là tnh đã hoàn thành quá trình công nghip hóa hoc ngược li, công nghip hóa là quá trình đ mt tnh tr thành tnh công nghip. Qung Ngãi bt đu tiến hành công nghip hóa vi xut phát đim t mt tnh thun nông do đó đi vi tnh ta công nghip hóa cũng có th được hiu là quá trình chuyn dch t kinh tế nông nghip sang nn kinh tế ly công nghip làm ch đo, t ch t trng lao đng nông nghip chiếm đa s gim dn và nhường ch cho lao đng công nghip và dch v chiếm phn ln. Cũng có th khng đnh rng: Đi vi Qung Ngãi là mt tnh xut phát đim t sn xut nông nghip là ch yếu, do đó, tiến trình công nghip hóa theo hướng hin đi ch thành công khi chúng ta công nghip hóa, hin đi hóa được nông nghip, nông thôn; xây dng các cơ chế chính sách sâu sát, phù hp; đng thi đu tư cho khoa hc, giáo dc hiu qu, đi đôi vi phát trin kết cu h tng, nht là h tng phc v nông nghip - nông thôn.

K t Đi hi Đi biu tnh Đng b ln th XVIII, nhim k 2010-2015 tnh ta bước vào thi k đy mnh s nghip công nghip hóa, hin đi hóa toàn din trên tt c các lĩnh vc kinh tế và xã hi. Tri qua 5 năm, bước đu tnh ta đã đt được nhiu thành qu hết sc quan trng: Tng sn phm trong tnh GRDP tăng bình quân 7,2%/năm; GRDP bình quân đu người năm 2015 đt 2.485 USD; cơ cu kinh tế, cơ cu lao đng chuyn dch theo hướng công nghip hóa vi t trng công nghip tăng mnh đến năm 2015 chiếm 62% và t trng nông nghip gim còn 14%; t l lao đng nông nghip gim t 58% năm 2010 xung còn 47% năm 2015.

Trên đa bàn, KKT Dung Qut, các KCN tp trung đã hình thành vi nhiu các nhà máy, xí nghip công nghip có quy mô ln, hin đi đi vào sn xut như: Nhà máy lc du, Nhà máy công nghip nng Doosan Vina, Nhà máy đóng tàu, các nhà máy trong Khu Công nghip - Đô th và Dch v VSIP.to nn tng cho kinh tế công nghip phát trin vng chc trong các giai đon mi; nông nghip và xây dng nông thôn mi có nhiu khi sc, giá tr sn xut bình quân 01 ha đt nông nghip đt ti 57 triu đng. Các công trình kết cu h tng đã và đang được đu tư vi các công trình ln như: H cha nước Nước Trong, đường cao tc Đà Nng-Qung Ngãi, nâng cp Quc l 1A, Quc l 24, Thy đin Đăkrin, cp đin cho đo Lý Sơn bng cáp ngm….

Các lĩnh vc phát trin văn hóa-xã hi, nâng cao cht lượng cuc sng và bo v môi trường cũng được đy mnh: Năm 2015 t l tr em dưới 5 tui suy dinh dưỡng gim còn 15%, tui th bình quân đt 74 tui, ch s phát trin con người (HDI) đt 0,736 (đt mc trung bình khá quc tế), có 5,5 bác sĩ và 21,6 giường bnh/ vn dân, t l người s dng internet (quy đi) đt 55%, toàn tnh h nghèo gim t 75.034 năm 2010 còn 26.538 h vào cui năm 2015, bình quân gim 3,23%/năm, t l lao đng qua đào to ngh so vi tng s lao đng chiếm 45%, s sinh viên đi hc, cao đng đt 400 sinh viên/ vn dân; Đ che ph rng đến năm 2015 là 50% (trên mc chun nước công nghip), t l x lý cht thi rn KCN, KKT và đô th đt 75%, nông thôn đt 40%, cht thi nguy hi đt 35%, trong đó cht thi y tế x lý đt 78%, t l dân cư đô th dùng nước sch đt 87%.

Vi nhng thành qu 5 năm qua đt được như đã nêu trên, có th khng đnh rng: Bước đu chúng ta đã đt được mt s nn tng quan trng làm tin đ vng chc cho vic tiếp tc xây dng và phát trin “đ sm tr thành tnh công nghip theo hướng hin đi.

Bước vào giai đon mi (2016-2020), tnh ta s gp nhiu thi cơ, thun li mi nhưng cũng không ít nhng khó khăn, thách thc tác đng đến quá trình công nghip hóa. Ngoài vic chu tác đng ca tình hình thế gii, trong nước như Chính ph cũng đã nhn đnh: trong nước, kinh tế có du hiu phc hi nhưng cũng còn nhiu khó khăn, thách thc như: tim lc vt cht ca nước ta còn yếu, tiến trình ci cách kinh tế chm, có th gây cn tr phát trin và nguy cơ tt hu vi kinh tế thế gii và các nước trong khu vc. Doanh nghip trong nước vn còn khó khăn, nht là khu vc nông nghip.  

Vi đc đim đa hình t nhiên ca tnh Qung Ngãi phn ln là vùng núi, có 6 huyn min núi trên 14 huyn, thành ph; điu kin sn xut, giao thông vô cùng khó khăn, đu tư h tng khá tn kém, có nhiu h nghèo và tt c 6 huyn min núi đu là huyn nghèo, thu ngân sách không đáng k s là gánh nng Ngân sách ca tnh, làm hn chế ngun lc đu tư cho phát trin.

Quy mô nn kinh tế còn nh bé, đim xut phát vn còn thp; bên cnh mt vài doanh nghip ln, còn li hu hết là các doanh nghip va và nh, công ngh lc hu, trình đ qun lý kinh doanh thp, sn phm hàng hóa không nhiu, sc cnh tranh yếu t, chưa có thương hiu trên th trường, chưa đóng góp được nhiu cho Ngân sách Nhà nước; có th ngày càng có nhiu các doanh nghip gii th và tm dng hot đng khi gp khó khăn, tr ngi.

S thu ngân sách hàng năm trên đa bàn khá ln, nhưng phn thu tnh được hưởng còn khiêm tn. Ngun lc đu tư t ngân sách hàng năm ca tnh còn hn hp, trong khi nhu cu đu tư cho nhng nhim v bc xúc khá nhiu.

H thng kết cu h tng kinh tế, xã hi tuy đã được tp trung đu tư nhiu trong các năm qua, nhưng vn còn yếu kém, chưa đng b, thiếu tính hin đi; chưa đáp ng yêu cu phát trin.

Một tỷ lệ khá lớn lao động được đào tạo nhưng chưa hoặc không có việc làm; từ đó cần tạo ra một khối lượng việc làm lớn để đáp ứng nhu cầu lao động, nếu không nguồn nhân lực sẽ bị lãng phí, đồng thời sẽ xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội mà nguyên nhân là do thất nghiệp gây ra. Mặt khác, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tất yếu dẫn đến thu hẹp quỹ đất nông nghiệp, một bộ phận lớn nông dân bị mất đất sản xuất, thất nghiệp gia tăng. Nhu cầu đặt ra là phải có giải pháp chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội.

Nguồn nhân lực về cơ bản chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển; nhất là yêu cầu nguồn nhân lực làm việc trong các lĩnh vực yêu cầu kỹ thuật và trình độ chuyên môn cao hay yêu cầu hoạch định chiến lược phát triển.

Nguy cơ bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là rất lớn; nhiệt độ tăng cao, hạn hán, mưa lụt ngày càng mạnh hơn về cấp độ cũng như cường độ; một số đô thị vùng đồng bằng ven biển còn bị ảnh hưởng bởi nước biển dâng. Mặt khác, tỉnh ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, trong đó có nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất có nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường; đặc biệt, vì nhu cầu phát triển kinh tế, tỉnh ta đã thu hút đầu tư một số dự án công nghiệp nặng, dễ gây ô nhiễm môi trường; đòi hỏi chúng ta phải tốn nhiều công sức, tiền của để ngăn ngừa và xử lý.

Nhiệm vụ về đảm bảo an ninh quốc phòng là rất nặng nề, đặc biệt ở khu vực biển, đảo. Tình hình tranh chấp ở Biển Đông chưa thể giải quyết nhanh trong thời gian ngắn. Biển Đông là cầu nối giữa nước ta với thế giới, rất thuận lợi cho sự phát triển, đồng thời Biển Đông cũng đang chứa đựng nhiều tranh chấp rất phức tạp về chủ quyền và lợi ích. Đây cũng là thách thức với nước ta, trong đó có Quảng Ngãi.

Thách thức lớn nhất đối với tỉnh cũng cần nói đến là một số chỉ tiêu đến hết năm 2015 sẽ đạt được quá thấp nếu so sánh với chuẩn tiêu chí quốc tế một nước công nghiệp (có tính chất tham khảo) như: GRDP bình quân đầu người mới đạt 2.485 USD (chuẩn là: ≥ 8.000 USD); tỷ lệ đô thị hóa mới đạt 16,5% (chuẩn là: ≥ 60%); tỷ lệ lao động nông nghiệp/ tổng số lao động mới giảm còn 47% (chuẩn là: ≤ 20%); số bác sĩ/ vạn dân cũng mới đạt 5,5 bác sĩ (chuẩn là: ≥15 bác sĩ/vạn dân); ….; cũng như sự cách biệt lớn về thu nhập và mức sống giữa các vùng miền trong tỉnh (đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc miền núi của tỉnh) là những thách thức đòi hỏi sự phấn đấu vượt bậc của toàn Đảng bộ và nhân dân tỉnh ta trong một thời gian dài chứ không thể một sớm một chiều là có thể đạt được.

 

Tác giả bài viết: TS. Nguyễn Kim Hiệu - Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh Quảng Ngãi

Theo Bản tin Khoa học và Đời sống số 02/2015

Các tin, bài khác