Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại là một quy luật chung, phổ biến đối với tất cả các nước trên con đường phát triển đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ, lao động thủ công là phổ biến. Cái chúng ta cần là một nền sản xuất công nghiệp hiện đại. Chính vì vậy chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá ở nước ta là nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Đó là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta chỉ thực sự thành công chừng nào thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Cùng với các địa phương cả nước, tỉnh Quảng Ngãi trong những năm gần đây đã chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu “xây dựng nền tảng để sớm đưa tỉnh ta cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại”(Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX).
Có thể giải thích một cách đơn giản rằng: Tỉnh công nghiệp là tỉnh đã hoàn thành quá trình công nghiệp hóa hoặc ngược lại, công nghiệp hóa là quá trình để một tỉnh trở thành tỉnh công nghiệp. Quảng Ngãi bắt đầu tiến hành công nghiệp hóa với xuất phát điểm từ một tỉnh thuần nông do đó đối với tỉnh ta công nghiệp hóa cũng có thể được hiểu là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế lấy công nghiệp làm chủ đạo, từ chỗ tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm đa số giảm dần và nhường chỗ cho lao động công nghiệp và dịch vụ chiếm phần lớn. Cũng có thể khẳng định rằng: Đối với Quảng Ngãi là một tỉnh xuất phát điểm từ sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, do đó, tiến trình công nghiệp hóa theo hướng hiện đại chỉ thành công khi chúng ta công nghiệp hóa, hiện đại hóa được nông nghiệp, nông thôn; xây dựng các cơ chế chính sách sâu sát, phù hợp; đồng thời đầu tư cho khoa học, giáo dục hiệu quả, đi đôi với phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng phục vụ nông nghiệp - nông thôn.
Kể từ Đại hội Đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010-2015 tỉnh ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế và xã hội. Trải qua 5 năm, bước đầu tỉnh ta đã đạt được nhiều thành quả hết sức quan trọng: Tổng sản phẩm trong tỉnh GRDP tăng bình quân 7,2%/năm; GRDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 2.485 USD; cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa với tỷ trọng công nghiệp tăng mạnh đến năm 2015 chiếm 62% và tỷ trọng nông nghiệp giảm còn 14%; tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 58% năm 2010 xuống còn 47% năm 2015.
Trên địa bàn, KKT Dung Quất, các KCN tập trung đã hình thành với nhiều các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp có quy mô lớn, hiện đại đi vào sản xuất như: Nhà máy lọc dầu, Nhà máy công nghiệp nặng Doosan Vina, Nhà máy đóng tàu, các nhà máy trong Khu Công nghiệp - Đô thị và Dịch vụ VSIP….tạo nền tảng cho kinh tế công nghiệp phát triển vững chắc trong các giai đoạn mới; nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới có nhiều khởi sắc, giá trị sản xuất bình quân 01 ha đất nông nghiệp đạt tới 57 triệu đồng. Các công trình kết cấu hạ tầng đã và đang được đầu tư với các công trình lớn như: Hồ chứa nước Nước Trong, đường cao tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi, nâng cấp Quốc lộ 1A, Quốc lộ 24, Thủy điện Đăkrin, cấp điện cho đảo Lý Sơn bằng cáp ngầm….
Các lĩnh vực phát triển văn hóa-xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ môi trường cũng được đẩy mạnh: Năm 2015 tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 15%, tuổi thọ bình quân đạt 74 tuổi, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,736 (đạt mức trung bình khá quốc tế), có 5,5 bác sĩ và 21,6 giường bệnh/ vạn dân, tỷ lệ người sử dụng internet (quy đổi) đạt 55%, toàn tỉnh hộ nghèo giảm từ 75.034 năm 2010 còn 26.538 hộ vào cuối năm 2015, bình quân giảm 3,23%/năm, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề so với tổng số lao động chiếm 45%, số sinh viên đại học, cao đẳng đạt 400 sinh viên/ vạn dân…; Độ che phủ rừng đến năm 2015 là 50% (trên mức chuẩn nước công nghiệp), tỷ lệ xử lý chất thải rắn ở KCN, KKT và đô thị đạt 75%, nông thôn đạt 40%, chất thải nguy hại đạt 35%, trong đó chất thải y tế xử lý đạt 78%, tỷ lệ dân cư đô thị dùng nước sạch đạt 87%.
Với những thành quả 5 năm qua đạt được như đã nêu ở trên, có thể khẳng định rằng: Bước đầu chúng ta đã đặt được một số nền tảng quan trọng làm tiền đề vững chắc cho việc tiếp tục xây dựng và phát triển “để sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại”.
Bước vào giai đoạn mới (2016-2020), tỉnh ta sẽ gặp nhiều thời cơ, thuận lợi mới nhưng cũng không ít những khó khăn, thách thức tác động đến quá trình công nghiệp hóa. Ngoài việc chịu tác động của tình hình thế giới, trong nước như Chính phủ cũng đã nhận định: Ở trong nước, kinh tế có dấu hiệu phục hồi nhưng cũng còn nhiều khó khăn, thách thức như: tiềm lực vật chất của nước ta còn yếu, tiến trình cải cách kinh tế chậm, có thể gây cản trở phát triển và nguy cơ tụt hậu với kinh tế thế giới và các nước trong khu vực. Doanh nghiệp trong nước vẫn còn khó khăn, nhất là khu vực nông nghiệp.
Với đặc điểm địa hình tự nhiên của tỉnh Quảng Ngãi phần lớn là vùng núi, có 6 huyện miền núi trên 14 huyện, thành phố; điều kiện sản xuất, giao thông vô cùng khó khăn, đầu tư hạ tầng khá tốn kém, có nhiều hộ nghèo và tất cả 6 huyện miền núi đều là huyện nghèo, thu ngân sách không đáng kể sẽ là gánh nặng Ngân sách của tỉnh, làm hạn chế nguồn lực đầu tư cho phát triển.
Quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé, điểm xuất phát vẫn còn thấp; bên cạnh một vài doanh nghiệp lớn, còn lại hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý kinh doanh thấp, sản phẩm hàng hóa không nhiều, sức cạnh tranh yếu ớt, chưa có thương hiệu trên thị trường, chưa đóng góp được nhiều cho Ngân sách Nhà nước; có thể ngày càng có nhiều các doanh nghiệp giải thể và tạm dừng hoạt động khi gặp khó khăn, trở ngại.
Số thu ngân sách hàng năm trên địa bàn khá lớn, nhưng phần thu tỉnh được hưởng còn khiêm tốn. Nguồn lực đầu tư từ ngân sách hàng năm của tỉnh còn hạn hẹp, trong khi nhu cầu đầu tư cho những nhiệm vụ bức xúc khá nhiều.
Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội tuy đã được tập trung đầu tư nhiều trong các năm qua, nhưng vẫn còn yếu kém, chưa đồng bộ, thiếu tính hiện đại; chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
Một tỷ lệ khá lớn lao động được đào tạo nhưng chưa hoặc không có việc làm; từ đó cần tạo ra một khối lượng việc làm lớn để đáp ứng nhu cầu lao động, nếu không nguồn nhân lực sẽ bị lãng phí, đồng thời sẽ xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội mà nguyên nhân là do thất nghiệp gây ra. Mặt khác, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tất yếu dẫn đến thu hẹp quỹ đất nông nghiệp, một bộ phận lớn nông dân bị mất đất sản xuất, thất nghiệp gia tăng. Nhu cầu đặt ra là phải có giải pháp chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội.
Nguồn nhân lực về cơ bản chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển; nhất là yêu cầu nguồn nhân lực làm việc trong các lĩnh vực yêu cầu kỹ thuật và trình độ chuyên môn cao hay yêu cầu hoạch định chiến lược phát triển.
Nguy cơ bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là rất lớn; nhiệt độ tăng cao, hạn hán, mưa lụt ngày càng mạnh hơn về cấp độ cũng như cường độ; một số đô thị vùng đồng bằng ven biển còn bị ảnh hưởng bởi nước biển dâng. Mặt khác, tỉnh ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, trong đó có nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất có nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường; đặc biệt, vì nhu cầu phát triển kinh tế, tỉnh ta đã thu hút đầu tư một số dự án công nghiệp nặng, dễ gây ô nhiễm môi trường; đòi hỏi chúng ta phải tốn nhiều công sức, tiền của để ngăn ngừa và xử lý.
Nhiệm vụ về đảm bảo an ninh quốc phòng là rất nặng nề, đặc biệt ở khu vực biển, đảo. Tình hình tranh chấp ở Biển Đông chưa thể giải quyết nhanh trong thời gian ngắn. Biển Đông là cầu nối giữa nước ta với thế giới, rất thuận lợi cho sự phát triển, đồng thời Biển Đông cũng đang chứa đựng nhiều tranh chấp rất phức tạp về chủ quyền và lợi ích. Đây cũng là thách thức với nước ta, trong đó có Quảng Ngãi.
Thách thức lớn nhất đối với tỉnh cũng cần nói đến là một số chỉ tiêu đến hết năm 2015 sẽ đạt được quá thấp nếu so sánh với chuẩn tiêu chí quốc tế một nước công nghiệp (có tính chất tham khảo) như: GRDP bình quân đầu người mới đạt 2.485 USD (chuẩn là: ≥ 8.000 USD); tỷ lệ đô thị hóa mới đạt 16,5% (chuẩn là: ≥ 60%); tỷ lệ lao động nông nghiệp/ tổng số lao động mới giảm còn 47% (chuẩn là: ≤ 20%); số bác sĩ/ vạn dân cũng mới đạt 5,5 bác sĩ (chuẩn là: ≥15 bác sĩ/vạn dân); ….; cũng như sự cách biệt lớn về thu nhập và mức sống giữa các vùng miền trong tỉnh (đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc miền núi của tỉnh) là những thách thức đòi hỏi sự phấn đấu vượt bậc của toàn Đảng bộ và nhân dân tỉnh ta trong một thời gian dài chứ không thể một sớm một chiều là có thể đạt được.
Tác giả bài viết: TS. Nguyễn Kim Hiệu - Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh Quảng Ngãi
Theo Bản tin Khoa học và Đời sống số 02/2015