Những món ăn và vị thuốc từ Dê
Dê có tên khoa học Capra SP, Dê là loại con vật tương đối dễ nuôi. Ở Việt Nam có 3 giống Dê chính: Dê Việt Nam, Dê Ấn Độ, Dê Mông Cổ. Trong 3 loại trên, dê Ấn Độ là loại to lớn nhất. Dê được phát triển khắp nơi, nhất là vùng Trung du, mịền núi; ở ngoài Bắc vùng Lạng Sơn, Nam Hà, Ninh Bình; ở miền Trung: Gia Lai, Kontum, Buôn Mê Thuộc; ở Miền Nam: Đồng Nai, Tiền Giang, v.v... đều nuôi rất nhiều Dê từ vài chục đến vài trăm con. Hầu như các bộ phận của Dê như: Thịt dê, Tiết dê, Gan dê, Dạ dày dê, Tinh hoàn dê, Xương dê, Sữa dê đều dùng làm thuốc.

1. Thịt dê: (Dương nhục).

Theo tài liệu cổ,  thịt dê có vị ngọt, tính hơi nóng, không độc vào 3 kinh tỳ, vị và can, có tác dụng trợ dương, người dương sự kém nên ăn, ho hen, gầy yếu, phụ nữ sau khi sinh yếu sức khí hư, cạn sữa nên dùng.

Nhiều món ăn từ thịt dê khá độc đáo, phổ biến nhất là tái dê. Thịt dê lựa chỗ thật ngon, như thịt đùi dê, phi hành mỡ ướp da vị cho thơm, áp chảo đem ra thái mỏng, bỏ vào đĩa, rắc mè, rau thơm sau đó dùng nước mắm đường, gừng ớt thì ăn rất ngon.

Các món ăn khác cũng từ thịt dê như: Cari dê, dê xào lăn, chao dê, dê bọc mỡ chài nướng, dê nướng chả 3 lớp,...

Nhiều người cho rằng ăn nhiều thịt dê như vậy rất bổ cho sức khỏe, nhất là những người chân dương suy yếu, hay đau lưng, mỏi gối chân tay lạnh, ăn một thời gian các chứng này biến mất.

Trong sách kim Quỹ nói “Phụ nữ sau khi sinh đẻ suy yếu, gầy còm ít sữa nên dùng thịt dê”.

Theo viện dịch tể Hà Nội (năm 1972) trong 100g thịt dê có 17,5% Protid; 40% Lipid. Như vậy ta thấy rằng trong thịt dê có nhiều chất béo.

2. Tiết dê: (Dương huyết).

Theo tài liệu cổ tiết dê có tác dụng giải độc, nhất là giải độc Đoạn trường thảo (lá ngón), uống ½ xị tiết dê là có thể giải độc ngay, còn bổ huyết, chữa choáng váng, chóng mặt, mệt mỏi.

3. Gan dê: Dùng để chữa Can phong hư nhược, mắt mờ đỏ, sau khi khỏi sốt bị mờ mắt: Mỗi ngày ăn từ 30 - 60g, nấu chín mà ăn, ăn liên tục nữa tháng.

4. Dạ dày dê: (Vị dương).

Chữa gầy yếu, ăn vào bị nôn mữa: Dạ dày dê phơi khô tán nhỏ, mỗi lần uống từ 5-10g.

5. Tinh hoàn dê: (Ngọc Dương).

Trị thận yếu, hoạt tinh ngày dùng từ 20-30g ngâm rượu uống.

6. Sữa Dê: Rất bổ, chống suy nhược, mệt mỏi, bổ sức, tăng lực, ốm yếu, nhiều người cho rằng dùng sữa dê tốt hơn sữa bò, lại không nóng. Tuy vậy sữa dê thường không cho nhiều được như sữa bò.

MỘT SỐ ĐƠN THUỐC LẤY TỪ DÊ

Bài 1: Chữa chứng nám mặt ở phụ nữ:

Xương Dê tán mịn hòa với lòng trắng trứng gà thoa mặt vào buổi tối trước khi đi ngủ.

Bài 2: Huyết dương tửu: Chữa đàn ông đau lưng, thiếu máu mệt mỏi:

Huyết dê vừa chảy ra cho vào rượu 40 - 500 (cứ 1 phần tiết 3 phần rượu). Sau đó cho thêm gừng tươi giã nhỏ, vỏ cam đường, quế, đại hồi vừa đủ quậy đều cho tan đường lọc trong, đóng thành chai cho vào tủ lạnh, 2-3 giờ sau đó đem dùng rất ngon, trước bữa ăn tối uống 2 ly nhỏ.

Bài 3: Cao dê toàn tính:

Chữa chứng thiếu máu, mệt mỏi, hay đau bụng, gầy còm, mỏi lưng đầu óc suy nhược.

Bài 4: Chữa chứng phụ nữ sinh xong suy yếu, ít sữa:

Thịt dê 40g, Sinh Khương 10g, Đương qui 5g nấu chín chia 2 lần ăn trong ngày.

Bài 5: Đau nhức trong xương:

Thịt dê 100g, Hoài Sơn 100g, gạo tẻ 1 nắm: Nấu cháo thật nhừ ăn trong ngày, nên ăn thường xuyên từ 1 tuần đến 2 tuần.

Bài 6: Chữa chứng đàn ông thận suy, yếu sinh lý, có khi di tình, đau lưng:

Cật dê 1 cặp, Kỷ tử 20g, Hoài Sơn 20g, Ba Kích 20g, Đại táo 5 quả, Đảng Sâm 20g, Xuyên quy 20g, Thục Địa 40g: Chưng cách thủy, mỗi tuần ăn 3 bộ, ăn chừng 3 tuần rất tốt.

Trong trường hợp này có cật dê núi thì càng quý (người ta còn gọi là Sơn Dương) huyết sơn dương rất tốt, thật ra sơn dương rất quý và rất hiếm.

Bài 7: Sau khi sinh phụ nữ quá yếu, lòng bụng đau, chân tay giá lạnh:

Thịt dê 1 cân, Xuyên Quy 30g, Bạch Thược 30g, Cam Thảo 20g. Cả 3 vị tán nhỏ.

Cách làm: Thịt dê nấu cho thật nhừ hòa với các vị thuốc trên rồi ăn rất hay.

                                                                                                                          Lương Y: Ngô Đình Thiện (Sưu tầm)       Phó Chủ tịch Hội Châm cứu tỉnh Quảng Ngãi    

 


Các tin, bài khác