BÀI CHÒI
Bài chòi là một thú chơi mộc mạc nhưng tao nhã của người bình dân ven biển Trung bộ, đậm nhất là Nam Trung bộ, rồi lan dần vào phía Nam theo bước lưu dân.
Gọi là “Bài chòi” vì muốn chơi loại bài này người ta phải cất chòi, dựng trại. Tuỳ thuộc vào diện tích sân rộng hay hẹp và tập quán chơi bài của mỗi địa phương mà người ta dựng từ 8 đến 10 chòi, nhưng phổ biến là lối chơi 9 chòi.
Trên mặt sân đất trống, người ta bố trí các chòi, trại theo hình chữ nhật, mặt quay vào trong sân. Nếu là 9 chòi thì trên hai cạnh dài dựng mỗi bên bốn chòi, đối diện và tương ứng nhau từng cặp một. Giữa một trong hai cạnh ngắn cất chòi trung ương. Đối diện chòi trung ương là rạp hội đồng, dành cho Ban trị sự. Rạp hội đồng có trống chầu dành cho người điều khiển cuộc chơi, một chiếc bàn lớn đặt khay tiền và những lá cờ hiệu, cạnh đó là chỗ ngồi của dàn nhạc gồm 1 sanh, 1 nhị, 1 kèn, 1 trống tum, có khi thêm 1phèng la.
Khoảng đất trống còn lại ở giữa là sân khấu trệt bốn mặt. Đây là không gian dành cho một nhân vật đặc biệt, làm nhiệm vụ quản trò, gọi là Hiệu. Tùy theo tuổi tác và giới tính, người ta gọi là anh Hiệu, chú Hiệu, hay cô Hiệu. Người này phải rành các điệu hát, điệu hò quen thuộc, nhớ nhiều thơ và ca dao, biết pha trò, giỏi ứng tác. Hiệu là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của bài chòi. Hiệu có thể là một người, nhưng thường thì có 2 người, một nam một nữ, cũng có khi thêm người thứ ba, làm nhiệm vụ thay bài. Hiệu mặc áo dài, đội khăn đóng, thắt dây lưng đỏ, mặt đánh phấn thoa son như đào kép hát bội.

Hát bài chòi
Câu hô thai bài chòi là lời ca tiếng hát phát ra từ miệng của Hiệu, một người nông dân có năng khiếu, biệt tài, ngày thường cày ruộng, cuốc đất như bao người nông dân khác, kịp khi tết đến xuân về thì “đóng khăn, khoác áo, thắt dây lưng” trở thành nhân vật quản trò trong hội chơi bài chòi. Vừa trổ tài góp vui cho bà con cô bác, vừa tranh thủ kiếm thêm chút ít thu nhập từ tiền công do Ban tổ chức trả và tiền thưởng của người chơi bài, nhưng điều quan trọng hơn đối với Hiệu là được hòa vào cuộc vui chung của lân lý, xóm làng. Niềm hạnh phúc của Hiệu là lúc xướng lên được một câu thai hợp tình, hợp cảnh, hay khi vừa ứng tác một lời ca ý nhị, thâm trầm được mọi người xuýt xoa khen ngợi.
Bài chòi là trò giải trí tao nhã, hào hứng, lấy vui làm chính, không vị chuyện sát phạt, đỏ đen. Sân chơi bài trở thành điểm vui xuân thu hút đủ mọi hạng người, mọi lứa tuổi. Nội dung câu thai bài chòi giàu tính nhân văn: vừa vun vén cho điều hay, lẽ phải, đạo lý làm người, ca ngợi quê hương, đất nước, tình nghĩa đồng bào, vừa phê phán những thói hư tật xấu, nhắc nhở ai nấy sửa mình.
HÁT MÚA SẮC BÙA
Hát múa sắc bùa là hình thức diễn xướng dân gian tổng hợp, mang tính nghi lễ, cầu phúc - chúc phúc, thường được tổ chức vào dịp tết Nguyên đán, thể hiện mơ ước người yên, vật thịnh, mưa thuận gió hòa, trǎm nghề tấn phát…
Đầu năm, ngày tết, các cuộc hát múa sắc bùa diễn ra trong không khí vui vẻ, hân hoan của cả cộng đồng, âm hưởng vọng vào câu hát đồng dao Nam Ngãi:
Sắc bùa là sắc bùa hoè
Trông cho đến tết ăn chè với xôi
Sắc bùa là sắc bùa ôi
Trông cho đến tết ăn xôi với chè…
Các thành viên trong phường sắc bùa là những người nông dân. Họ học sắc bùa theo kiểu truyền khẩu, đi hát trong lúc nông nhàn, vừa có dịp trổ tài lại vừa có thêm thu nhập từ tiền thưởng của các gia đình rước phường đến hát và các chức sắc, phú hộ, người mộ điệu được chủ gia mời dự.
Mùa "đi sắc" của phường sắc bùa bắt đầu từ mùng 1 tết và kéo dài trong vòng một tháng, nhưng cũng có khi đến tận hết tháng ba âm lịch mới kết thúc.

Hát múa Sắc bùa trong Lễ hội Đền thờ AHDT Trương Định
Nội dung hát múa sắc bùa thể hiện khát vọng hạnh phúc, bình yên của con người trước thềm năm mới. Các bài hát sắc bùa thường dễ hát, dễ nhớ, gần gũi với đời sống dân dã, thường được sáng tác sẵn và học thuộc, hoặc dùng các bài vè, điệu lý phổ biến trong dân gian. Ngoài phần hát, sắc bùa còn có phần múa với những niêm luật nhất định.
Sắc bùa là nghệ thuật diễn xướng có khả năng dung nạp khá mạnh các làn điệu dân ca, những câu hò điệu lý trong dân gian (lý vọng phu, lý vẽ rồng, ru con Nam Trung bộ...) nhiều làn điệu trong tuồng đồ, bài chòi. Sự đan xen, tích hợp những giá trị văn hóa trong múa hát sắc bùa là quá trình vừa gìn giữ lưu truyền những giá trị gốc, độc đáo của văn hóa Đông Sơn, vừa tiếp thu, dung nạp có sự sàng lọc, chọn lọc những giá trị văn hóa ở những vùng đất mới.
HÁT BẢ TRẠO
Hát bả trạo (chèo đưa linh, chèo hầu linh, hát bạn chèo, hát đưa Ông…) là một hình thức diễn xướng dân gian gắn liền với lễ cúng cá Ông, sử dụng phối hợp các động tác múa, ca hát và âm thanh của các nhạc cụ, tái hiện hành trình ra khơi của người đi biển.“Bả” có nghĩa là chặt, nắm chặt; “trạo” là mái chèo. Bả trạo là nắm chặt mái chèo, thể hiện ý chí vững tay trên biển cả, sẵn sàng đối phó với phong ba.

Hát Bả trạo sân đình
Trong đội hình bả trạo ở Quảng Ngãi, nghệ nhân trình diễn gồm toàn nam giới, không giới hạn độ tuổi, bao gồm một Tổng mũi (còn gọi là Tổng tiền), một Tổng khoang (Tổng thương, Tuần thuyền) một Tổng lái và bạn chèo (con trạo) từ 10 đến 16 người, tùy theo từng địa phương, nhưng phải luôn luôn là số chẵn.
Bên cạnh và cùng với đội bả trạo là ban nhạc, nếu đầy đủ thì gồm 1 trống chầu, 1 trống cơm, 2 đàn nhị, 1 bộ phách, 1 kèn trung, 1 kèn tiểu và 1 cặp sênh tiền (hoặc trống con) trong tay Tổng mũi. Ban nhạc mặc áo dài truyền thống, đầu đóng khăn.
Một cuộc hát bả trạo có 4 chặng: Chặng đầu là xuất bến, chặng 2 kéo lưới, chặng 3 đưa thuyền vượt sóng to, gió cả, có sự hỗ trợ của thần linh; chặng 4 là phần kết thúc, con thuyền bình an về bến trong niềm vui của gia đình, làng vạn.
Về nội dung, hát múa bả trạo kể lại công đức của cá Ông đã ra ơn giúp đỡ người đi biển trong cơn hoạn nạn, nói lên ý chí chịu đựng gian khổ, sự đồng lòng, đồng sức vượt qua bão táp phong ba, đồng thời thể hiện sinh động tình yêu thiên nhiên biển cả, khát vọng được mùa, ấm no hạnh phúc.
Hát bả trạo vừa là một thành tố trong lễ hội cúng cá Ông vừa là một hình thức diễn xướng dân gian sinh động, diễn ra vào dịp đầu năm, ngày tết hoặc những dịp hiếu hỉ trong gia đình, làng vạn, như lễ về nhà mới, tế miếu Bà...
Là một loại hình diễn xướng dân gian mang đậm yếu tố nguyên hợp, thu hút sự đăm mê của nhiều người, hát múa bả trạo có đủ những điều kiện cơ bản, tự thân để trở thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn, mang đậm giá trị văn hoá tinh thần, vừa đem lại lợi ích về kinh tế, vừa góp phần quảng bá, giới thiệu di sản văn hoá truyền thống của cộng đồng các dân tộc anh em Quảng Ngãi./.
Lê Hồng Khánh -
Hội viên Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
Theo Bản tin KH&ĐS số 4/2014