Phát triển bền vững ở Quảng Ngãi nhìn từ Quyết định 432/QĐTTg và 2157/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ
Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai..." (Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới nay là Brundtland)

Với quan điểm phát triển bền vững yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội và coi con người là trung tâm với vai trò là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của phát triển bền vững. Quảng Ngãi hiện đang trong thời kỳ đẩy mạnh “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” nhằm đưa tỉnh ta “đến năm 2020 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại” thì phát triển bền vững cũng vừa mang tính chiến lược trong quá trình “công nghiệp hóa” đến năm 2020 với mục tiêu: “Tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, góp phần cùng cả nước bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”.

Hồ xử lý nước thải ở nhà máy lọc dầu Dung Quất

 

Những định hướng ưu tiên của tỉnh Quảng Ngãi nhằm phát triển bền vững giai đoạn 2014- 2020, đó là:

a) V kinh tế

- Nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển đổi mô hình tăng trưởng mà chủ yếu theo chiều rộng hiện nay sang kết hợp hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến để tăng năng suất và sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ;

- Phát triển bền vững trong công nghiệp với kết cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị  bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường; tích cực ngăn ngừa và xử lý các chất thải công nghiệp, xây dựng nền “công nghiệp xanh”, ưu tiên phát triển các ngành, công nghệ và sản phẩm thân thiện với môi trường, đẩy mạnh phát triển công nghệ cao;

- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, phát huy thế mạnh của từng vùng, miền và từng địa phương; phát triển sản xuất nông sản hàng hóa có chất lượng và hiệu quả, gắn sản xuất với thị trường trong và ngoài nước; đẩy mạnh việc áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất; điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển nông, lâm, ngư theo từng vùng, địa phương theo hướng phát triển bền vững, gắn vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến;

- Phát triển nông thôn bền vững theo 4 quá trình: công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đô thị hóa; kiểm soát dân số; bảo vệ môi trường sinh thái. Bảo đảm quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nông thôn phải theo các tiêu chí xây dựng nông thôn mới;

- Tập trung ưu tiên phát triển trước các vùng kinh tế động lực của tỉnh như KKT Dung Quất, Thành phố Quảng Ngãi, Đức Phổ - Sa Huỳnh và Di Lăng -Sơn Hà, là những nơi có khả năng bức phá và lan tỏa đến các vùng khác; đồng thời chú ý hỗ trợ các huyện miền núi và vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng có điều kiện khó khăn hơn.

b) Về xã hội

- Đẩy mạnh giảm nghèo nhanh, bền vững; tạo thêm nhiều việc làm, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội;

- Chú trọng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của tất cả các lĩnh vực ngành nghề, đặc biệt đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức;

- Phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ về y tế, chăm sóc sức khỏe; bảo đảm an toàn thực phẩm, cải thiện điều kiện và vệ sinh môi trường lao động, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát triển thể lực, tầm vóc của người Quảng Ngãi để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực;

      - Xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, xây dựng nhân cách con người Quảng Ngãi, đặc biệt là thế hệ trẻ về đạo đức, lối sống, trí tuệ, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, tình yêu quê hương, trách nhiệm xã hội và ý thức chấp hành pháp luật.

       c) Về tài nguyên và môi trường

       - Chống thoái hóa, sử dụng có hiệu quả và bền vững tài nguyên đất; đổi mới công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đảm bảo quy hoạch sử dụng đất phải đồng bộ, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; gia tăng năng suất các hệ sinh thái đất đai và đất sản xuất nông nghiệp bền vững, bảo vệ đa dạng sinh học;

       - Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước trên cơ sở quản lý tổng hợp, thống nhất, ngăn ngừa suy thoái và phục hồi chất lượng các nguồn nước ở các lưu vực các sông chính như:Trà Khúc, Trà Bng, Trà Câu và Sông V;

    - Bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo; phát triển kinh tế biển nhằm đưa tỉnh ta đến năm 2020 trở thành tỉnh mạnh và giàu về biển (đến năm 2020 kinh tế bin và các huyn ven bin đóng góp 80% GDP ca tnh/QH tổng thể phát triển KT-XH tỉnh/), góp phần cùng cả nước bảo vệ thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam;

   - Bảo vệ, phát triển rừng trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch và phân loại phát triển 3 loại rừng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất), kết hợp việc bảo tồn, phòng hộ rừng với phát triển du lịch sinh thái (ở Cà Đam - Nước Trong, Cao Muôn…);

   - Tăng cường các biện pháp nhằm kiểm soát và giảm phát thải ô nhiễm không khí và tiếng ồn do các hoạt động giao thông, xây dựng, sản xuất công nghiệp và dân sinh; Quản lý chặt chẽ và xử lý triệt để các chất thải nguy hại phát sinh trong sản xuất và ngành y tế;

   - Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai; xây dựng hệ thống giám sát biến đổi khí hậu và nước biển dâng nhằm chủ động ứng phó kịp thời trong mọi tình huống có thể xảy ra./.

TS. Nguyễn Kim Hiệu -  Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh

(Theo: Bản tin Khoa học & Đời sống - Số 3/2014)

Các tin, bài khác