Christopher Young, Chủ tịch Hội đồng di sản Anh, cố vấn UNESCO, trong báo cáo về chuyến khảo sát Trường Luỹ, trình bày tại Toạ đàm về Trường Luỹ ngày 16/4/2010, có những dòng đại ý như sau: Trường Luỹ là một di tích thật ấn tượng. Ngoài một vài đoạn mất mát, nó hiện diện với vẻ nguyên vẹn và trong trạng thái rất tốt. Trường luỹ cho chúng ta những cơ hội nghiên cứu rất lớn, bởi nó chưa được khảo sát kể từ khi bị bỏ phế, không sử dụng. Không giống như luỹ Hadrian ở Anh, vốn đã trải qua ít nhất một thế kỷ rưỡi nghiên cứu tỉ mỉ và bảo tồn công phu, Trường Luỹ Quảng Ngãi chỉ ra cơ hội lớn cho nghiên cứu, bảo tồn và quản lý, với sự quan tâm đặc biệt để lưu giữ tiềm năng của nó cho mai sau. Không chỉ dành cho các nhà nghiên cứu và khảo cổ học, Trường Luỹ này còn mang đến những cơ hội to lớn cho 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định và người dân của hai tỉnh đó. Nó đồng thời cũng mở ra tiềm năng cho sử dụng bền vững, để mang lại lợi ích kinh tế cho những cộng đồng cư dân sống lân cận những vùng mà luỹ chạy qua. Và đối với những công trình trải dài như Trường Luỹ, việc chia sẻ rộng rãi những lợi ích nói trên qua nhiều địa phương và nhiều nhóm tộc người khác nhau là điều rất khả thi.
Để rõ hơn, chúng tôi xin nêu những điểm cốt lõi về giá trị của Trường lũy, trên cơ sở tổng hợp các tư liệu lịch sử, khảo sát thực địa và tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu.
1) Về nghiên cứu lịch sử:
Kể từ khi những “Đoạn Trường Luỹ” và những đồn/bảo bắt đầu được hình thành dưới thời Bùi Tá Hán, khoảng giữa thế kỷ XVI, cho đến khi chấm dứt về cơ bản vai trò của một công trình phòng thủ, ngăn chặn vào những năm cuối thế kỷ XIX, Trường Luỹ đã có hơn 300 năm chứng kiến vô vàn sự kiện lịch sử diễn ra ở miền tây Quảng Ngãi trong mối liên hệ hữu cơ với cả tỉnh Quảng Ngãi, cũng như 2 tỉnh Quảng Nam, Bình Định.
Trường Luỹ lại gắn với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều nhân vật nổi tiếng. Làm thế nào có thể đánh giá đầy đủ về hành trạng của Lê Văn Duyệt, Nguyễn Cư Trinh, Đỗ Đăng Đệ…nếu không hiểu được những mối liên hệ của họ với Trường Luỹ. Cho dù thời gian có mặt tại Quảng Ngãi không phải là dài, nhưng những quyết sách của các ông đã để lại những vết hằn sâu đậm lên lịch sử Trường Luỹ và miền Tây Quảng Ngãi. Với Bùi Tá Hán, Nguyễn Tấn, Nguyễn Thân thì còn hơn thế. Phần quan trọng trong sự nghiệp của ba con người nầy gắn liền Trường Luỹ - Sơn Phòng – Quảng Ngãi, và vì vậy nghiên cứu về Trường Luỹ, về lịch sử tỉnh Quảng Ngãi nhất thiết phải tìm hiểu về lai lịch của họ, cho dù mỗi người, bằng hành động của mình, có thể đã kìm hãm hoặc thúc đẩy lịch sử tiến lên phía trước.

Khai quật tại Trường lũy
2) Về nghiên cứu dân tộc học: (Ethnolosy)
Miền Tây Quảng Ngãi là nơi cư trú lâu đời của 3 dân tộc thiểu số: H’re, Cor và Ca dong (một nhóm địa phương của dân tộc Xê đăng), trong đó, người H’re có số dân đông nhất, có quan hệ khá thường xuyên, trực tiếp và lâu dài với người Việt (Kinh), cư trú dọc theo Trường Luỹ, về phía Tây. Không quá khó khăn để nhận thấy người H’re có nhiều khác biệt về hình thái kinh tế xã hội, văn hoá, phong tục so với các tộc người thiểu số khác ở miền Tây Quảng Ngãi cũng như khắp vùng Trường Sơn – Tây nguyên mà nổi bật là lối sống định cư ở những sườn đồi thấp, sản xuất lúa nước trên những cánh đồng bậc thang trong thung lũng hẹp, biết làm những đập bổi để đưa nước vào ruộng. Tuy vậy, cho đến nay giới khoa học trong và ngoài nước vẫn chưa có những công trình nghiên cứu công phu, thấu đáo về tộc người này. Rất nhiều câu hỏi về tộc người H’re cũng như mối quan hệ giữa tộc người nầy với các tộc người thiểu số láng giềng, với người Việt (Kinh) ở phía Đông, đặc biệt là mối quan hệ của người H’re với Trường Luỹ, đang chờ đợi câu trả lời của các nhà khoa học.
3) Về kinh nghiệm trị thuỷ:
Chạy dọc miền Tây tỉnh Quảng Ngãi, băng qua những vùng đồi núi chập chùng với những con sông, dòng suối hiền hoà, thanh thản vào mùa khô, nhưng trở nên cuồng nộ đến khủng khiếp vào mùa mưa lũ, thế nhưng những bờ kè đá, bờ đất của hệ thống Trường Luỹ, hàng thế kỷ qua, trừ những nơi bị chính con người tàn phá, vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”, trong khi đó có không ít những con đập bằng bê tông cốt thép xây dựng tốn kém khá nhiều tiền của trong những năm gần đây ở miền Tây, lại dễ dàng bị tàn phá bởi những cơn lũ quét, lũ ống dữ dội hàng năm. Tìm hiểu, nghiên cứu việc lựa chọn vị trí, vật liệu và giải pháp kỹ thuật của tiền nhân trong xây dựng bờ luỹ chắc chắn mang lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quý báu cho công tác trị thuỷ ở miền thượng du Quảng Ngãi cũng như các tỉnh nằm dọc vùng duyên hải Nam Trung bộ.
4) Về khai thác du lịch:
Trường Luỹ và cùng với nó là cảnh quan thiên nhiên miền Tây Quảng Ngãi ẩn chứa một tiềm năng du lịch dồi dào. Sau hàng thế kỷ lặng im giữa miên man đồi núi, chập chùng suối khe, Trường Luỹ đang tỉnh giấc và bắt đầu cuộc đối thoại lý thú với con người hiện đại. Một khối đá dưới chân Trường Luỹ, một mảnh vở đồ gốm tìm thấy trong hố khai quật khảo cổ học, đều có thể trở thành nhân chứng của lịch sử và là người kể chuyện với du khách hôm nay, dù đó là nhà nghiên cứu dày dạn, đam mê hay đơn giản chỉ là một lữ khách có hứng thú với miền đất lạ.
Đến với Trường Luỹ, cũng là đến với thiên nhiên hùng vỹ của miền Tây Quảng Ngãi, Bình Định, kéo dài hàng trăm cây số qua bao nhiêu sông suối, núi rừng, qua những plây của người H’re ở lưng chừng đồi thấp, những ngôi làng người Việt ẩn khuất sau những khóm tre. Đi dọc Trường Luỹ, vào một thời khắc nào đó trong ngày, du khách có thể lắng nghe câu hát ta lêu tình tứ của một nàng sơn nữ e lệ, thấp thoáng dưới bóng kơnia, xa xa là mái nhà sàn khuất sau bóng núi, bóng cây. Thiên nhiên miền Tây Quảng Ngãi, vừa quen vừa lạ, bí ẩn quyến rũ, hữu tình cùng với Trường lũy./.
Lê Hồng Khánh
Hội viên Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
Theo Bản tin Khoa học & Đời sống số 2/2014