
Căn cứ phân loại động vật, họ hàng nhà khỉ thuộc họ khỉ (Cercopithecidae), bộ linh trưởng (Primates), lớp thú (Mammalia). Họ khỉ có 2 phân họ là phân họ khỉ (Cercopithecinae) gồm các loài khỉ và phân họ voọc (Colobinae) gồm các loài voọc và chà vá ăn lá. Trên thế giới có 81 loài khỉ với 3 nhóm lớn: Khỉ Tân thế giới, Khỉ Cựu thế giới và Khỉ Không đuôi.
Xét về mặt đa dạng sinh học, họ hàng nhà khỉ đã tạo nên tính đa dạng sinh học phong phú trong sinh thái thái rừng nhiệt đới ở nước ta từ Bắc vào Nam, đặc biệt phân họ voọc và khỉ có 5 loài đặc hữu Việt Nam, không thể tìm thấy ở nơi khác trên thế giới: Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus), Voọc Mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc Mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) và Khỉ Đuôi dài (Macaca fascicularis).
- Xét về mặt kinh tế: Khỉ tham gia vào hoạt động kinh tế của con người như dịch vụ giải trí (xiếc thú), du lịch sinh thái (Đảo khỉ) thậm chí khỉ còn tham gia vào một trong những công đoạn sản xuất sản phẩm nước dừa, dầu dừa (ngành công nghiệp tỷ đô) của Thái Lan với khâu lao động thu hoạch quả dừa trên cây với năng suất 1000 quả/con/ngày ...
- Xét về mặt y học: Khỉ được dùng để sản xuất vắcxin bại liệt, dại ..., dùng làm thí nghiệm kiểm chứng lâm sàn một số loại thuốc mới của ngành dược thế giới...
Riêng về y học cổ truyền Việt Nam, khỉ là nguyên liệu sống để sản xuất, điều chế ra các loại thuốc dùng cho người như:
1. CAO XƯƠNG KHỈ là cao nấu bằng xương khỉ đã được làm hết thịt mỡ.
2. CAO KHỈ TOÀN TÍNH: được chế bằng cách đem toàn bộ con khỉ cạo sạch lông, mổ bỏ ruột rồi nấu kỹ với nước nhiều lần, lọc lấy dung dịch trong, cô đặc thành cao mềm.
Tính vị: vị chua, mặn, tính bình.
Quy kinh: Vào kinh Can và Thận.
Là vị thuốc chữa suy nhược cơ thể, gầy yếu, thiếu máu, xanh xao, biếng ăn, mất ngủ…, rất tốt đối với phụ nữ và người già.
Về công dụng của 2 loại cao nói chung giống nhau. Nhưng cao khỉ toàn tính được đánh giá tốt hơn.
3. ÓC KHỈ: còn mang tên gọi khác là cao lâu, nấu hoặc hấp cách thủy rồi ăn, uống cùng với rượu, có tác dụng nhuận da, cường thận.
4. MỠ KHỈ: vị hơi cay và ấm dùng bôi xoa vào vết chàm, hắc lào, ghẻ lở, mụn nhọt...
5. XƯƠNG KHỈ: giúp bổ dưỡng và trị nhiều bệnh về da, cơ, xương, hệ tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết. Dưới dạng bột nướng dùng làm nhuận da, chữa gân cốt đau, dạ dày yếu, đi tiểu ra máu, kiết lị, táo bón. Dưới dạng cao dùng tăng sinh lực bổ can thận, bổ máu, đặc trị tê thấp, đau lưng, đau bụng, nhức mỏi, đổ mồ hôi trộm…
6. TINH HOÀN KHỈ: dùng dưới dạng ngâm vào rượu uống hoặc hầm ăn cùng một số vị thuốc đông y, nó giúp tăng sinh lực, làm sáng mắt, dẻo gân cơ, đặc trị chứng suy thận và liệt dương.
7. MẬT KHỈ: chữa đau mắt, động kinh .
8. SỎI MẬT KHỈ: còn gọi là hầu táo, tán bột, dùng hoàn tán, vị đắng lạnh, hơi mặn. Vào kinh tâm, phế, can đởm. Tác dụng thanh nhiệt, trấn kinh hóa đàm định suyễn, tiêu viêm giải độc.
Ngoài ra từ nghiên cứu quan sát tập tính đời sống của loài khỉ của nhà nhân chủng học Richard Wrangham (Đại học Harvard), giả thiết của Karen Strier và các nhà khoa học khác đã làm cơ sở hình thành một ngành khoa học mới mang tên quốc tế Zoo-pharmacognosie, chuyên nghiên cứu khả năng tự chăm sóc của động vật bằng cây thuốc tự nhiên.
Qua những phần đã nêu trên cho thấy khỉ có nhiều lợi ích cho con người song không vì vậy mà chúng ta lạm dụng săn bắt, nuôi nhốt trái với quy định của pháp luật về bảo vệ thú hoang dã, đặc biệt là đối với những loài đặc hữu tại Việt Nam được IUCN công nhận, Sách đỏ Việt Nam xếp vào hạng từ sẽ nguy cấp (VU A1c,d) trở đi để tránh nguy cơ tuyệt chủng nhằm bảo tồn các loài linh trưởng ở Việt Nam.
KS. Võ Thanh Thủy - BS Đoàn Văn Tạo
Theo Bản tin KH&ĐS số 4/2015