Diễn đàn Trí thức
(Đăng lúc: 30/10/2015 11:08:55 AM)
Làng nghề Quảng Ngãi - Những bất cập trong công tác bảo vệ môi trường và giải pháp
Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, giải quyết việc làm lúc nông nhàn, tăng thu nhập cho người dân… Bên cạnh những đóng góp tích cực về mặt kinh tế, thì vấn đề ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất tại các làng nghề luôn được cộng đồng quan tâm và mong muốn sớm có được các giải pháp tổng hợp về quản lý cũng như kỹ thuật để cải thiện chất lượng môi trường làng nghề, góp phần phát triển làng nghề bền vững.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi chỉ có 06 trong tổng số 17 làng nghề được công nhận nhưng vẫn chưa có làng nghề nào đảm bảo các điều kiện về bảo vệ môi trường. Có thể xếp 17 làng nghề này vào 3 nhóm chính là: nhóm chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản (có 11/17 làng nghề thuộc các loại hình chế biến hải sản; sản xuất bún, bánh tráng; bánh kẹo, làm muối); nhóm hàng thủ công mỹ nghệ (có 05/17 làng nghề thuộc các loại hình sản xuất chổi đót; mây tre đan; rèn thủ công; đan sợi, đánh võng; trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, rèn đúc đồng) và nhóm gây trồng, kinh doanh sinh vật cảnh (có 01/17 làng nghề).

Phần lớn các loại hình sản xuất đều có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, tác động trực tiếp tới môi trường nước, không khí, đất trong khu vực và sức khỏe của người dân. Đơn cử một vài ví dụ là: ô nhiễm mùi thường xảy ra tại các làng nghề chế biến hải sản; ô nhiễm khí SO2 tại làng nghề sản xuất mây tre đan (phát sinh từ quá trình xử lý chống mốc cho các sản phẩm mây tre đan); nước thải phát sinh từ quá trình làm bún, nước mắm,… đều không được xử lý trước khi thải ra môi trường, vấn đề an toàn lao động tại khu vực sản xuất và an toàn vệ sinh thực phẩm chưa được bảo đảm…

Một góc LNTT chế biến hải sản Đức Lợi

Những tồn tại, bất cập từ nhiều năm qua trong quá trình phát triển làng nghề có thể xem là những nguyên nhân làm cho chất lượng môi trường làng nghề ngày càng suy giảm. Có thể tóm tắt thành 06 điểm chính như sau:

1. Quy mô sản xuất ở làng nghề nhỏ, phần lớn là ở quy mô hộ gia đình; mặt bằng sản xuất chật hẹp xen kẽ với khu vực sinh hoạt. Sản xuất càng phát triển thì nguy cơ lấn chiếm khu vực sinh hoạt, phát thải ô nhiễm tới khu dân cư càng lớn.

2. Nếp sống tiểu nông của người chủ sản xuất nhỏ có nguồn gốc nông thôn đã khiến họ chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt mà không nhận thức được tác hại lâu dài của ô nhiễm. Các cơ sở sản xuất tại làng nghề thường chọn quy trình sản xuất thô sơ, tận dụng nhiều sức lao động với trình độ thấp. Thậm chí một số cơ sở còn sử dụng các nhiên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại (kể cả đã bị cấm sử dụng) nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh, thiếu đầu tư phương tiện, dụng cụ bảo hộ lao động. Trình độ người lao động, chủ yếu là lao động thủ công, văn hóa thấp, học nghề theo kinh nghiệm nên ảnh hưởng tới nhận thức về công tác bảo vệ môi trường.

3. Công nghệ sản xuất và thiết bị phần lớn ở trình độ lạc hậu, chắp vá, kiến thức tay nghề không toàn diện dẫn đến việc tiêu hao nhiều nguyên, nhiên, vật liệu, làm gia tăng phát thải ra môi trường.

4. Vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề quá thấp, khó có điều kiện phát triển hoặc đổi mới sản phẩm theo hướng thân thiện với môi trường.

5. Nhiều làng nghề chưa quan tâm đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho bảo vệ môi trường như hệ thống thu gom, xử lý khí thải, nước thải, chất thải rắn,... Tuy nhiên, đây là một thách thức lớn vì để làm được việc này đòi hỏi rất nhiều kinh phí trong khi người dân ở các làng nghề không có đủ khả năng đầu tư.

6. Quan hệ giữa cán bộ trong hệ thống chính quyền địa phương, giữa các hộ không sản xuất với các hộ sản xuất tại làng nghề có nhiều gắn bó về mặt tình cảm. Vì vậy, họ rất ngại khi áp dụng các biện pháp chính quyền và luật pháp đối với các cơ sở sản xuất trong làng nghề gây ô nhiễm, họ ngại xung đột do quan hệ họ hàng, hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau. 

Song song với những bất cập trong phát triển làng nghề đã nêu trên, vẫn còn đó những rào cản trong hoạt động quản lý môi trường làm ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ môi trường tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh, cụ thể là:

1. Thiếu thông tin từ hệ thống văn bản pháp lý, các quy định về bảo vệ môi trường làng nghề: Trên thực tế, hầu như các văn bản pháp lý không được phổ biến đến các hộ sản xuất nghề. Nhận thức của các cán bộ địa phương (cấp xã) về công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế. Hầu hết các địa phương đều thiếu hụt nhân sự, phương tiện và nguồn tài chính phục vụ cho việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường đến các hộ sản xuất nghề. Các địa phương có làng nghề cũng chưa tích cực tranh thủ sự hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý môi trường các cấp trong công tác truyền thông môi trường.

2. Thiếu sự quan tâm của chính quyền và cơ quan quản lý môi trường: Việc đầu tư thời gian và các nguồn lực nhằm giảm thiểu ô nhiễm trong sản xuất của làng nghề bị xem nhẹ. Công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề chưa được các cơ quan quản lý môi trường quan tâm đúng mức. Hầu hết các làng nghề chưa có hoặc không thường xuyên có cán bộ quản lý môi trường thực hiện công tác thanh, kiểm tra, giám sát hay hỗ trợ các hộ sản xuất làng nghề thực hiện công tác bảo vệ môi trường. Các chế tài trong việc kiểm tra và xử phạt các hành vi gây ô nhiễm môi trường của các hộ sản xuất nghề còn chưa đủ mạnh.

3. Chưa phân định rõ cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp về bảo vệ môi trường ở các làng nghề hiện nay. Còn chồng chéo chức năng quản lý môi trường làng nghề giữa Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường cũng như UBND các huyện, thành phố nơi có làng nghề.

4. Kinh phí cho hoạt động bảo vệ môi trường còn hạn chế, chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành trong công tác bảo vệ môi trường làng nghề.

5. Thiếu sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương trong khi họ là một trong những đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ vấn đề ô nhiễm của hoạt động sản xuất làng nghề. Do mối quan hệ mang nặng tính chất tình cảm như họ hàng, xóm giềng,… nên họ thường bàng quan, né tránh việc phản ánh các hành vi gây ô nhiễm của các cơ sở sản xuất nghề.

Có thể thấy rằng cả bốn đối tượng bao gồm chính quyền địa phương, các hộ sản xuất tại làng nghề, cộng đồng dân cư sống xung quanh làng nghề và các đơn vị truyền thông đều gặp phải những rào cản, khó khăn nhất định (cả chủ quan và khách quan) trong việc tham gia giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn tỉnh. Xác định rõ quan điểm bảo vệ môi trường là một trong những giải pháp cơ bản để tiếp tục phát triển bền vững các làng nghề, trong thời gian đến chúng ta cần thực hiện một số giải pháp sau:

- Thứ nhất, bổ sung vào hệ thống văn bản pháp luật của tỉnh các văn bản về công tác bảo vệ môi trường làng nghề. Kịp thời chỉnh sửa các văn bản hướng dẫn pháp luật sao cho phù hợp với đặc thù của làng nghề.

- Thứ hai, tăng cường công tác truyền thông, giáo dục và tập huấn về bảo vệ môi trường cho các hộ dân của các làng nghề cũng như cán bộ ở địa phương nơi có làng nghề.

- Thứ ba, năng cao năng lực quản lý môi trường của chính quyền địa phương và cơ quan quản lý môi trường các cấp trong quản lý môi trường làng nghề. Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, chính quyền cấp xã, thôn có làng nghề.

- Thứ tư, tăng ngân sách cho công tác quản lý môi trường tại các làng nghề. Đảm bảo nguồn kinh phí dành cho việc quan trắc, giám sát diễn biến chất lượng môi trường tại các làng nghề.

- Thứ năm, cần có quy hoạch và từng bước xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề (CNLN) để đưa các cơ sở sản xuất, các hộ sản xuất nghề vào cụm CNLN. Trước mắt, cần tập trung ưu tiên các làng nghề có các hoạt động sản xuất kinh doanh dễ gây tác động tiêu cực tới môi trường như: làng nghề chế biến thủy sản, làng nghề bún, bánh tráng… Hiện tại trên địa bàn tỉnh, chỉ có Làng nghề truyền thống chế biến hải sản Đức Lợi, huyện Mộ Đức đã có quy hoạch và xây dựng cụm công nghiệp tập trung. Tuy nhiên, do sản phẩm đầu ra của CNLN này không cạnh tranh được với các sản phẩm tương tự trên thị trường, nên sức tiêu thụ sản phẩm làng nghề kém dẫn đến các cơ sở sản xuất chưa đủ nguồn kinh phí để đầu tư vào cụm công nghiệp.

- Thứ sáu, cần có chính sách ưu đãi tài chính cho các hoạt động liên quan đến cải thiện môi trường làng nghề (như giảm thuế, giảm lãi suất cho vay). Kêu gọi các nguồn hỗ trợ tài chính từ các tổ chức, Quỹ Bảo vệ môi trường cho việc đầu tư các công trình xử lý ô nhiễm và truyền thông môi trường tại các làng nghề. Tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và cung cấp thông tin về các công nghệ thân thiện môi trường, các lợi ích của việc sản xuất sạch hơn đến các hộ sản xuất nghề. Đối với những làng nghề đã được công nhận, cần có những chính sách ưu đãi hỗ trợ như: hỗ trợ công tác quảng bá sản phẩm, đào tạo nâng cao tay nghề cho các lao động tại làng nghề…

Với trách nhiệm của mình, dù là chủ cơ sở sản xuất, dù là cán bộ quản lý thuộc chính quyền địa phương hay bà con dân cư sinh sống tại làng nghề, chúng ta đều phải có các hành động cụ thể, tích cực góp phần từng bước giảm thiểu tác động của ô nhiễm đến môi trường và sức khỏe con người. Môi trường làng nghề chỉ thực sự được cải thiện khi cả hệ thống chính trị và cộng đồng có sự vào cuộc, quan tâm, đầu tư đúng mức./.

Th.S Trần Vũ Như Quỳnh                

                  Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Quảng Ngãi

Theo Bản tin KH&ĐS số 3/2015         


THÔNG BÁO
VIDEO NHÚNG
LIÊN KẾT WEB
DANH NGÔN KHOA HỌC
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 627918
Đang trực tuyến: 83