Mục tiêu của quá trình tái cơ cấu nông nghiệp là nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa nông lâm thủy sản để tăng thu nhập cho người sản xuất, trong đó chủ yếu là nông dân. Để tái cơ cấu thành công, khâu đầu tiên là phải có sản phẩm tốt, có lợi thế cạnh tranh và sau đó là tổ chức sản xuất tốt, hình thành được các chuỗi liên kết sản xuất tiêu thụ hàng hóa. Đây là 2 điều kiện cơ bản và cũng là yêu cầu, hỗ trợ lẫn nhau để tiến hành tái cơ cấu nông nghiệp, vì nếu không có sản phẩm tốt thì cũng không thể hình thành được chuỗi liên kết và ngược lại nếu không có liên kết trong sản xuất thì sản phẩm dù có tốt đến mấy cũng không đưa ra thị trường một cách ổn định, đồng thời không thể hiện và duy trì được lợi thế cạnh tranh.
Trong giai đoạn hiện nay Chính phủ đã có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ quá trình tái cơ cấu nông nghiệp, xây dựng chuỗi liên kết, mang tính vượt trội. UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có quyết định số 148/QĐ-UB ngày 25/5/2015 về phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Quảng Ngãi có một số thuận lợi cơ bản về điều kiện tự nhiên như diện tích đất rừng trồng và mặt biển rộng lớn, năng lực trồng rừng, đánh bắt hải sản tương đối mạnh so với các tỉnh. Bên cạnh đó, Quảng Ngãi cũng còn rất nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình xây dựng chuỗi liên kết để phục vụ cho tái cơ cấu nông nghiệp.
Thứ nhất, Quảng Ngãi chưa có sản phẩm tốt có lợi thế cạnh tranh, không có sản phẩm nằm trong top nông sản thuộc bản đồ xuất khẩu nông sản thế giới như một số tỉnh Tây Nguyên, Nam Bộ. Quảng Ngãi chỉ có một vài loại nông sản đặc thù đã và đang xây dựng được thương hiệu như Tỏi Lý Sơn, Quế Trà Bồng, tuy nhiên số lượng và giá trị hàng hóa chưa lớn. Còn lại các sản phẩm khác như lúa, mía, mỳ, rừng trồng, chăn nuôi thủy sản… đều chưa có lợi thế cạnh tranh, vì năng suất thấp, chất lượng không cao. Đồng thời qua theo dõi sự diễn biến về diện tích, sản lượng các loại cây trồng, vật nuôi trong nhiều năm qua hầu như chưa có sự thay đổi đáng kể nào. Đối với cây lâm nghiệp trên đất rừng trồng có tăng mạnh nhưng sản phẩm chủ yếu là keo lấy dăm gỗ, được trồng ngắn ngày, giá trị gia tăng không cao và thiếu bền vững từ thị trường xuất khẩu. Do đó nếu giữ nguyên các sản phẩm sản xuất như hiện nay thì không thể hình thành các chuỗi liên kết được và rất khó khăn trong quá trình tái cơ cấu.
Thứ hai, tổ chức sản xuất còn manh mún, mang tính tự phát. Trong đó phổ biến nhất vẫn là tình trạng trồng lúa và chăn nuôi nhỏ lẻ theo kiểu truyền thống gia đình. Hầu như doanh nghiệp (DN) chưa quan tâm đến đầu tư vào nông nghiệp. Trong số gần 4000 DN đang hoạt động ở Quảng Ngãi thì chỉ vài DN tham gia ký hợp đồng với người sản xuất. Một số rất ít sản phẩm được sản xuất theo hướng liên kết như mía, mỳ nhưng sản lượng và diện tích liên kết không lớn; HTX chủ yếu vẫn hoạt động theo cơ chế cũ, phổ biến là HTX dịch vụ, chưa kết nối sản xuất giữa các hộ nông dân; các nghiệp đoàn nghề cá cũng đưa ra những cam kết, qui chế hoạt động chung như đoàn kết ra khơi bám biển, bảo vệ tài nguyên…, chưa thể gọi là liên kết sản xuất, kể cả liên kết ngang và liên kết dọc.
Như vậy, qua đánh giá thực trạng như trên thì chuỗi liên kết, kể cả những tiền đề để xây dựng chuỗi ở Quảng Ngãi xem như chưa có gì. Vòng luẩn quẩn đặt ra là chưa có sản phẩm tốt thì lấy gì mà liên kết, mà chưa có liên kết thì lấy đâu ra sản phẩm tốt để cạnh tranh được trên thị trường. Đó là câu chuyện con gà và quả trứng, cái gì có trước. Vậy ta phải bắt đầu từ đâu?

Ưu tiên chuyển diện tích lúa kém hiệu quả sang ngô lai hoặc cỏ voi
Quan điểm xuyên suốt và chung nhất là phải triển khai đồng thời cả hai nội dung trên và phải tập trung hướng vào số đông đối tượng được hưởng lợi. DN không thể chờ người nông dân sản xuất sản phẩm nhiều lên, tốt lên để rồi tiến hành liên kết. Ngược lại người nông dân không thể chờ DN đến gõ của từng nhà để đặt vấn đề sản xuất liên kết. Mà phải tiến hành song song, dựa trên tín hiệu thị trường, dựa trên những tiềm năng hiện có để hình thành các liên kết sớm nhất. Sự tương tác nầy nhanh hay chậm và có bền vững hay không phụ thuộc vào những chủ thể khác có tính thúc đẩy, đó là các tổ chức như tổ hợp tác, HTX đứng ra đại diện cho nông dân và vai trò của nhà nước địa phương các cấp. Trước mắt tỉnh cần tập trung một số nội dung.
1. Xây dựng một số liên kết dựa trên những tiềm năng hiện có. Hai lĩnh vực lớn trong nông nghiệp Quảng Ngãi có thể xem là thế mạnh, có lợi thế cạnh tranh là trồng rừng và khai thác hải sản. Tuy nhiên để hình thành chuỗi liên kết cần phải cần phải tập trung và chuyển đổi một số khâu:
- Đối với trồng rừng, do hầu hết là trồng rừng làm nguyên liệu giấy, đồng thời đã hình thành số Doanh nghiệp chế biến dăm gỗ rất lớn, có đến 31 DN chế biến lâm sản, chủ yếu gỗ dăm, nên có hiện tượng tranh mua, khai thác sớm, vừa nâng giá mua và chất lượng dăm thấp, thị trường xuất khẩu thiếu ổn định nên hầu hết DN làm ăn kém hiệu quả, lỗ. Để tạo liên kết và sản xuất bền vững cần chuyển đổi căn bản từ rừng keo trồng dày, để chế biến dăm sang trồng thưa để lấy gỗ. Tỉnh cần xây dựng ngay cơ chế khuyến khích nông dân tỉa thưa rừng keo dày hiện có, hỗ trợ giống, kỹ thuật trồng mới và kéo dài thời gian sinh trưởng. Đồng thời có cơ chế hỗ trợ DN chuyển đổi công nghệ, máy móc từ sản xuất dăm gỗ sang xẻ gỗ lớn như ván thanh, ván ghép và sản xuất đồ gỗ gia dụng xuất khẩu, khuyến khích thu mua chế biến sâu để nâng cao giá trị gia tăng các sản phẩm từ gỗ thông qua các hợp đồng bao tiêu sản phẩm…
- Đối với khai thác hải sản, cần hướng dẫn ngư dân trong nghiệp đoàn tham gia các hoạt động liên kết nhau trong đánh bắt, hướng dẫn kỹ thuật phân loại, bảo quản, sơ chế để tạo nguồn cung sản phẩm ổn định, đồng thời có cơ chế khuyến khích các DN chế biến hải sản đầu tư công nghệ bảo quản, sơ chế cho ngư dân và thu mua thông qua hợp đồng.
2. Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất thông qua sự liên kết để phát triển một số sản phẩm đặc thù có giá trị đã xây dựng được thương hiệu như tỏi, quế để xuất khẩu; tiếp tục xây dựng các thương hiệu mới như gà thả vườn, rau quả sạch để đưa vào các siêu thị trong và ngoài tỉnh. Mạnh dạn chuyển đổi cây trồng vật nuôi kém hiệu quả sang các cây trồng vật nuôi có hiệu quả hơn. Quy hoạch đất cho trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Chuyển đổi đất trồng lúa không hiệu quả sang trồng cây nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, rau quả, thủy sản và các sản phẩm giá trị cao khác. Bảo vệ đất nông nghiệp nhưng cho phép thay đổi linh hoạt mục đích sử dụng giữa đất lúa và các cây trồng khác, chỉ giữ lại trồng lúa ở một số cánh đồng mẫu lớn có địa hình thấp. Cần đẩy nhanh việc nhân rộng mô hình mới, hiệu quả như trồng bắp lai, trồng cỏ voi tưới phun sương trên diện tích lúa kém hiệu quả, dồn điền đổi thửa hợp lý hình thành các tổ hợp và HTX chăn nuôi bò lai ở vùng đồng bằng…
3. Ngoài ra, Nhà nước tập trung giải quyết sớm một số vấn đề lớn có liên quan, đó là:
- Trên cơ sở chính sách của Trung ương, tỉnh cần sớm xây dựng một hệ thống các cơ chế chính sách khuyến khích, ưu đãi một cách toàn diện cho nông dân và cho DN phù hợp thực tiễn của tỉnh và mang tính khả thi cao, dành nguồn ngân sách thích đáng cho đầu tư, hỗ trợ để phục vụ tái cơ cấu, xây dựng các liên kết trong nông nghiệp. Trong đó, ngoài chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho DN và nông dân còn tập trung ngân sách cho khâu xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp nhất là giao thông và thủy lợi; ngân sách để dồn điền đổi thửa; giống, đào tạo hướng dẫn kỹ thuật để thay đổi vật nuôi cây trồng.
- Khẩn trương chuyển đổi và xây dựng mô hình HTX kiểu mới theo luật HTX năm 2013. Nếu HTX vẫn giữ nguyên như hiện nay thì sẽ không đại diện cho người nông dân, không là cầu nối được trong liên kết với doanh nghiệp.
- Tổ chức các hội nghị xúc tiến DN, xây dựng các mô hình trợ giá, bảo lãnh rủi ro trong quá trình đầu tư và liên kết trong nông nghiệp.
Đây là một công việc mới và nhiều khó khăn thách thức. Nếu chần chừ, thiếu sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị và thiếu những giải pháp cụ thể phù hợp với từng vùng, từng lĩnh vực, từng đối tượng chủ thể thì sẽ không hình thành được chuỗi liên kết, quá trình tái cơ cấu không thể thành công theo đề án đã được duyệt./.
ThS. Nguyễn Văn Luyện
Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế tỉnh Quảng Ngãi
Theo Bản tin KH&ĐS số 2/2015