Như chúng ta đã biết, từ thực tiễn cuộc sống, người xưa đã đúc kết những kinh nghiệm xuyên thời đại đó là tứ phi (phi nông bất ổn, phi thương bất hoạt, phi công bất phú, phi trí bất hưng) ngũ qui (qui nông tắc ổn, qui thương tắc hoạt, qui công tắc phú, qui trí tắc hưng, qui pháp tắc bình); kinh nghiệm này vẫn còn giá trị ứng dụng cho đến hiện nay, nhất là tại thời điểm mà nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, lấy công nghiệp hóa - hiện đại hóa là nội lực, hội nhập quốc tế là xu thế thời đại làm điều kiện hội đủ.
Nhìn lại thời gian qua, ở tầm quốc gia, trong lĩnh vực ngành nông nghiệp, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương lớn: Nghị quyết về tam nông; công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo và gần đây (năm 2013) là tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; những chủ trương, chính sách trên đã tạo ra những bước chuyển dịch tích cực, cơ bản đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam.Đối với tỉnh ta, mặc dù công nghiệp hóa, đô thị hóa là nhiệm vụ đột phá song nông nghiệp, nông dân, nông thôn cũng vẫn là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt, chính vì thế mà nông nghiệp tỉnh nhà hàng năm vẫn tăng trưởng, an sinh xã hội vùng nông thôn, miền núi, ven biển được cải thiện với tỉ lệ hộ đói nghèo giảm nhanh. Tuy nhiên nếu dừng lại như hiện tại (sản xuất và tiêu thụ nông sản phẩm hiện nay) thì ngành nông nghiệp tỉnh ta sẽ tụt hậu mà điều đó đã hiện hữu trong bối cảnh nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang phát triển nhanh và bước ngoặt hội nhập vào thị trường mậu dịch quốc tế ngày một rộng và sâu hơn.
Vừa qua, trên phạm vi cả nước, Đảng đã ra Nghị quyết số 26-NQ/TƯ về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Chính phủ đã ban hành đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành chương trình hành động thực hiện Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” ngày 18/06/2013.

Trồng mì xen đầu phộng trên đất gò đồi Sơn Tịnh
Thực hiện những chủ trương của Đảng và chỉ đạo của Chính phủ nêu trên, Quảng Ngãi đang tập trung xây dựng Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015-2020”.
Để góp phần nhỏ vào việc xây dựng đề án, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức hội thảo về tái cơ cấu ngành nông nghiệp vào tháng 12 năm 2014. Từ kết quả hội thảo chúng tôi xin nêu lên những đề xuất về định hướng xây dựng Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015-2020” của tỉnh với những vấn đề cần quan tâm như sau:
1. Về giới hạn mục tiêu chung và yêu cầu của Đề án: Mục tiêu chung (kim chỉ nam) đồng thời vừa là yêu cầu bắt buộc của Đề án là cần làm rõ tái cơ cấu để và phải nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững sản xuất sản phẩm nông nghiệp hàng hóa, điều này có nghĩa là ngành hàng sản phẩm nông nghiệp hàng hóa nào không nâng cao được giá trị gia tăng và phát triển bền vững thì ngành hàng đó không đưa vào nội dung tái cơ cấu của đề án.
2. Về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của Đề án:
Từ giới hạn của mục tiêu chung và đặc thù của ngành nông nghiệp là khối ngành tổng hợp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, lại rất rộng và đa dạng, chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan và có ảnh hưởng trực tiếp đến 80% dân số của tỉnh vì vậy đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Đề án cần được giới hạn về thời gian là trung hạn (5 năm); đối tượng là những cây trồng, vật nuôi, hải sản nuôi trồng và khai thác có giá trị gia tăng cao và bền vững; về không gian là trên địa bàn các huyện, thành phố có lợi thế so sánh hoặc có điều kiện đặc thù. Với giới hạn trên, tính khả thi của Đề án sẽ cao do phù hợp với nguồn lực và có trọng tâm, trọng điểm nên sẽ đem lại hiệu quả cao khi đi vào thực hiện.
3. Cơ sở việc lựa chọn ngành hàng nông nghiệp (sản phẩm nông nghiệp hàng hóa) đưa vào nội dung tái cơ cấu:
Để có cơ sở lựa chọn ngành hàng nông sản hàng hóa (nông, lâm, thủy hải sản) đưa vào nội dung tái cơ cấu điều trước tiên phải khảo sát đánh giá cụ thể thực trạng tổ chức sản xuất, tiêu thụ, hiệu quả kinh tế, xã hội của từng ngành hàng nông sản trong phạm vi toàn tỉnh, đồng thời dựa vào khả năng phát triển và dự báo nhu cầu thị trường tương lai trong tỉnh, trong nước và quốc tế để lựa chọn ra những ngành hàng chiến lược của tỉnh (có giá trị gia tăng cao, sản lượng lớn, nhu cầu thị trường tương đối ổn định và có vai trò lớn trong mục tiêu an sinh xã hội) và chọn riêng những ngành hàng đặc thù, đặc sản của từng huyện, thành phố. Từ đó làm cơ sở đưa vào nội dung cụ thể của Đề án tái cơ cấu.

Nuôi cá chình lồng trên sông Trà Khúc tại Tịnh Sơn, Sơn Tịnh
4. Nội dung cơ bản tái cơ cấu:
Từ các giới hạn về lựa chọn đối tượng, phạm vi tái cơ cấu nêu trên, nội dung tái cơ cấu theo từng đối tượng ngành hàng nông sản chiến lược, (ví dụ như: Khoai mì, keo, mía, bò thịt, tôm nuôi, hải sản đánh bắt xa bờ) và ngành hàng đặc thù, đặc sản (như: hành tỏi Lý Sơn; quế Trà Bồng; rau, lúa chất lượng cao Tư Nghĩa, Mộ Đức, TP. Quảng Ngãi, Bình Sơn; hoa TP.Quảng Ngãi, Tư Nghĩa;, cây ăn quả Nghĩa Hành; dưa hấu Bình Sơn, Sơn Tịnh, Đức Phổ; cây gỗ lớn sao đen, lim xanh, xà cừ; trâu thịt các huyện Miền núi; gà ta các huyện đồng bằng; cá chình Tư Nghĩa, Sơn Tịnh; mực Bình Sơn, Tư Nghĩa, TP Quảng Ngãi) mỗi ngành hàng nên tập trung vào 3 vấn đề tái cơ cấu sau:
- Tái cơ cấu sản xuất theo đúng yêu cầu thị trường của từng ngành hàng nông sản về qui mô, địa bàn sản xuất, chất lượng sản phẩm, …
- Tái cơ cấu tổ chức sản xuất đối với kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã theo mô hình kinh tế hợp tác mới của từng ngành hàng để đáp ứng điều kiện liên kết trong thị trường.
- Tái cơ cấu về đầu tư công cho nông nghiệp (nhân lực, vật lực, tài lực) đáp ứng yêu cầu hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa theo cơ chế thị trường.
5. Về giải pháp thực hiện đề án:
Để triển khai thực hiện đề án sẽ có nhiều giải pháp trong đó cần quan tâm đến những giải pháp chính yếu sau:
- Quy hoạch chi tiết từng ngành hàng nông sản hàng hóa đã được lựa chọn (ngành hàng chiến lược, ngành hàng đặc thù, đặc sản) trên phạm vi toàn tỉnh (tại những huyện, thành phố có lợi thế so sánh đã được phân tích đánh giá ở trên).
- Hoàn thiện nâng cấp hoặc hình thành kinh tế hợp tác mới (hợp tác xã, tổ hợp tác) để tổ chức sản xuất các ngành hàng, theo mô hình cánh đồng mẫu lớn trong đó biện pháp dồn điền đổi thửa, thủy lợi hóa, cơ giới hóa, giao thông hóa là 4 nội dung mang tính tiên quyết.
- Xây dựng mô hình liên kết sản xuất- tiêu thụ (liên kết cung – cầu) tiến đến hình thành chuỗi giá trị cho từng ngành hàng nông sản chiến lược và đặc thù, đặc sản.
- Đầu tư hỗ trợ tài chính, khoa học công nghệ, Khuyến nông lâm ngư, cơ chế chính sách đặc thù cho sản xuất và tiêu thụ nông sản thông qua các dự án khoa học công nghệ khuyến nông, dự án đầu tư phát triển cụ thể cho riêng từng ngành hàng.
- Hoàn thiện, bổ sung chức năng, nhiệm vụ đối với các tổ chức bộ máy hỗ trợ dịch vụ công theo nhu cầu đề án trong các cơ quan chức năng của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương, Liên minh Hợp tác xã tỉnh ...
6. Về tổ chức thực hiện đề án: phải chú trọng đến 2 điểm mấu chốt là:
- Hoạch định lộ trình (bước đi) thực hiện đề án (phân kỳ theo tiến độ thực hiện đề án trong 5 năm)
- Ban chỉ đạo thực hiện đề án cần có 4 thành phần cơ bản là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (tổ chức sản xuất), Sở Công Thương (xúc tiến thương mại), Liên minh Hợp tác xã (xây dựng liên kết các nhà), UBND các huyện, thành phố có liên quan (tổ chức thực hiện đề án tại địa phương)
7. Đánh giá hiệu quả đề án:
Về đánh giá tính khả thi và mức độ đáp ứng mục tiêu yêu cầu của đề án cần đánh giá khái quát, tóm tắt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của đề án.
Với những nội dung đề xuất nêu trên, mong rằng được sự quan tâm, tham khảo vận dụng của cơ quan lập Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2015 – 2020”, góp phần hoàn thiện đề án, có tính đổi mới, sáng tạo và thực tiễn cao khi đưa đề án vào thực hiện./.
Ks. Võ Thanh Thủy
Ban KHCN & TVPB
Theo Bản tin KH&ĐS số 1/2015