Diễn đàn Trí thức
(Đăng lúc: 10/04/2015 02:26:42 PM)
Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Công nghệ thông tin gắn liến với nhu cầu xã hội
Theo mục tiêu cụ thể đến năm 2020 của Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị (khóa VI) về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin (CNTT) đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, trong ba khâu đột phá chiến lược, có nội dung: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới nội dung, phương thức dạy và học, thúc đẩy xã hội học tập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước”. Việc thực hiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng đòi hỏi cần có sự phối hợp chặt chẽ từ các đơn vị quản lý nhà nước, các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội - nghề nghiệp khác.

 

Hội thảo về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực CNTT

 

Bài viết này xin đề cập đến một số giải pháp về nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực CNTT gắn liền với nhu cầu xã hội tại tỉnh Quảng Ngãi và những kiến nghị sau:

1. Những giải pháp đồng bộ từ nay đến năm 2020

a) Đối với các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực CNTT

- Cần xây dựng tốt cơ sở hạ tầng kỹ thuật (theo chủ trương chung của Cục CNTT,  Bộ Thông tin & truyền thông đối với cấp địa phương). Xây dựng các Phòng thí nghiệm, nhà thực hành CNTT tại khoa CNTT, Trung tâm Thông tin-tư liệu (học liệu) như các hệ thống mô phỏng bằng chương trình máy tính, hệ thống chương trình mã nguồn mở cho đến các công cụ quản trị cơ sở dữ liệu (CSDL), phân tích, đánh giá hiệu suất hoạt động của các hệ thống mạng máy tính và các hệ thống ứng dụng. Trang bị phần mềm có bản quyền cho các chương trình dạy học.

- Cải tiến nội dung và phương thức đào tạo: Triển khai nội dung đào tạo CNTT cho các đối tượng nhóm ngành kinh tế, kỹ thuật đủ khả năng thích ứng, hoàn thiện các chương trình ứng dụng trong môi trường làm việc cụ thể và cuối cùng là khả năng hợp tác, phối hợp với kỹ sư chuyên CNTT trong việc phân tích yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ, đặt bài toán, tham gia thử nghiệm chương trình, tiếp nhận và khai thác sử dụng có hiệu quả trong từng lĩnh vực chuyên môn tại đơn vị.

- Gắn liền nghiên cứu khoa học, áp dụng thành tựu khoa học, công nghệ mới trong giảng dạy. Tăng ngân sách nghiên cứu khoa học cho các trường đại học, cao đẳng và có cơ chế phối hợp giữa nhà trường và Sở Khoa học và Công nghệ trong các chương trình nghiên cứu khoa học, các Hội thi  Sáng tạo Khoa học Kỹ thuật. Đẩy mạnh chương trình hợp tác nghiên cứu và giảng dạy giữa các Đại học vùng, Đại học Quốc gia với các trường trong địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

- Xây dựng chuẩn nghề nghiệp trong ngành CNTT: Chuẩn nghề nghiệp là một mô hình về đào tạo, mô tả kiến thức, kỹ năng và khả năng cần thiết được xã hội đánh giá để vận dụng thành công ở các cơ quan, đơn vị... Chuẩn nghề nghiệp về CNTT có sự thống nhất của Nhà nước, được kiểm định chất lượng theo một hệ thống đánh giá chuẩn, từ đó có thể cân bằng chất lượng nguồn nhân lực ở các khu vực vùng, miền đào tạo và nâng cao hiệu quả lao động phục vụ nền kinh tế quốc dân.

- Chuẩn đầu ra đối với sản phẩm đào tạo nhân lực CNTT: Cần xây dựng các chuẩn đầu ra đáp ứng theo yêu cầu của nhà tuyển dụng một số vị trí cần đến như: Lập trình viên, trưởng tiểu dự án (cấp địa phương, cấp tỉnh), nhân viên kiểm tra chất lượng, chuyên viên phân tích hay giám đốc kinh doanh IT (Information Technology: công nghệ thông tin) /trưởng phòng IT.

b) Đối với các tổ chức chính quyền, các tổ chức xã hội nghề nghiệp và doanh nghiệp

- Giải quyết bài toán về cấu đào tạo nguồn nhân lực CNTT: Xây dựng cơ cấu hợp lý 3 bộ phận về nguồn nhân lực CNTT: Chuyên gia, Chuyên viên khai thác, ứng dụng (chuyên trách) và Người dùng cuối (NSD). Cơ cấu ba bộ phận này cần phát triển theo hình tháp, ước tính tỷ lệ đạt được là 1/9/90 (theo thông lệ của nhóm các nước đang phát triển hiện nay).

- Gắn kết cơ đào tạo nguồn nhân lực với doanh nghiệp: Khuyến khích các đơn vị sử dụng nguồn nhân lực CNTT tạo điều kiện để sinh viên các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực được thực hành, thực tập ngay từ còn học ở nhà trường nhằm tạo điều kiện cho người học có thể bắt nhịp được công việc sau này tại các đơn vị sử dụng nguồn nhân lực CNTT. Thông tin từ phía nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực CNTT cần phải có sự phối hợp, chia sẽ chi tiết đến từng lĩnh vực, ngành nghề và nhu cầu ngắn hạn, dài hạn để các cơ sở đào tạo mới có thể xây dựng kế hoạch đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng.

- Xã hội hoá giáo dục đào tạo nguồn nhân lực CNTT: Khuyến khích các doanh nghiệp phối hợp và cùng tham gia đào tạo nguồn nhân lực CNTT, bao gồm đào tạo mới và đào tạo lại theo nhu cầu sử dụng. Các doanh nghiệp cần đẩy mạnh đầu tư, hỗ trợ cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển giao công nghệ cho các cơ sở đào tạo(ví dụ: hỗ trợ thiết bị xây dựng phòng thí nghiệm, chuyển giao công nghệ, hội thảo nghề nghiệp,…). Nhà nước sớm  thống nhất quản lý về hệ thống đánh giá chất lượng đào tạo, chuẩn đào tạo, chuẩn nghề nghiệp CNTT  và cấp chứng chỉ đối với các cơ sở đào tạo cho mọi loại hình đào tạo nguồn nhân lực CNTT.

- Hoàn thiện công tác dự báo, thống kê của các cấp quản lý. Hoàn thiện công tác thống kê, dự báo đúng nhu cầu của xã hội về nhu cầu sử dụng nguồn lực CNTT. Công tác dự báo phải dựa trên các số liệu tin cậy, có phương pháp phân tích, đánh giá số liệu tốt để từ đó đưa ra những dự báo chính xác nhằm định hướng phát triển cho hoạt động đào tạo nguồn nhân lực. Định hướng đào tạo theo lĩnh vực, ngành nghề phù hợp cho từng sở, ban, ngành, các khu công nghiệp và từng địa phương trên địa bàn tỉnh.

2. Một số kiến nghị:

a) Đối với cơ sở đào tạo nguồn nhân lực CNTT

- Các cơ sở đào tạo cần xây dựng kế hoạch đào tạo từ nay đến năm 2020 đảm bảo đáp ứng nhu cầu về CNTT, tránh một xu hướng rất nguy hiểm là mất cân đối về tỷ lệ đào tạo Chuyên gia/chuyên viên/Người dùng cuối theo tỷ lệ 1/9/90;

- Các trung tâm, đơn vị đào tạo phải đề xuất tư duy mới, cập nhật ứng dụng thực tiễn địa phương để xây dựng chương trình đào tạo một cách hiệu quả nhất kể cả việc đổi mới phương pháp dạy và học phù hợp, tạo điều kiện tối đa để sinh viên có thể tiếp cận với các tài liệu, phần mềm hỗ trợ cần thiết như giáo trình điện tử, kho học liệu…

- Các cơ sở đào tạo cần được điều chỉnh theo hướng hỗ trợ tối đa cho người học những kỹ năng nghề nghiệp (các kỹ năng mềm) cần thiết để có thể đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng như khu kinh tế Dung Quất; Khu liên hợp công nghiệp, đô thị và dịch vụ VSIP Quảng Ngãi  và các dự án lớn tại Quảng Ngãi.

b) Chính quyền và các tổ chức xã hộ

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về ứng dụng, phát triển CNTT;

- Tiến hành khảo sát hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực CNTT tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp nhà nước cấp huyện. Từ đó, nắm rõ hiện trạng về cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT, tình hình ứng dụng các phần mềm CNTT, đặc biệt là trình độ CNTT của cán bộ, công chức của từng cơ quan, đơn vị; phân tích và đưa ra các dự báo chính xác về nhu cầu nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh theo hàng năm;

- Tổ chức hội thảo đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội, hội thảo việc làm và cơ hội nghề nghiệp cấp tỉnh hàng năm giữa các cơ sở đào tạo và sở, ban, ngành, doanh nghiệp trong tỉnh và khu vực Miền trung - Tây nguyên;

- Hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho các đơn vị chưa có kinh nghiệm đào tạo trong lĩnh vực CNTT về  đội ngũ giảng dạy, chương trình tiên tiến, hạ tầng kỹ thuật CNTT;

- Cần có tiêu chuẩn bắt buộc về ứng dụng CNTT đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ, công chức nói chung khi tuyển dụng, điều động và đề bạt trong các cơ quan Đảng và Nhà nước.

c) Các doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

- Các doanh nghiệp cần cung cấp các thông tin cần thiết về nhu cầu của mình đối với lĩnh vực CNTT và phối hợp với các cơ sở đào tạo để đào tạo mới hoặc đào tạo lại người lao động hiện có, cần hiểu rằng CNTT có thể tạo ra những thay đổi đột phá cho chính mình;

- Các tổ chức nghề nghiệp cần phải đóng vai trò quan trọng và đi tiên phong trong việc cấp và kiểm soát các giấy chứng nhận nghề nghiệp, việc phát triển các chương trình đào tạo phù hợp nhất cho mình (là những chương trình đào tạo, bồi dưỡng không cấp bằng chính thức trong lĩnh vực CNTT).

 

Ths. Lương Văn Nghĩa          

Chủ tịch Hội Tin học Quảng Ngãi 

Theo Bản tin KH&ĐS số 1/2015  


THÔNG BÁO
VIDEO NHÚNG
LIÊN KẾT WEB
DANH NGÔN KHOA HỌC
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 626978
Đang trực tuyến: 60