| Xây dựng, triển khai cơ chế chính sách tái cơ cấu nông nghiệp Quảng Ngãi | |
| Ngày đưa: 30/10/2015 08:54:44 AM |
|
![]() Nông nghiệp - nông thôn là một trong những lĩnh vực rộng lớn, theo đó cơ chế chính sách cũng rất nhiều. Trong phạm vi bài viết này xin trao đổi một số nội dung về xây dựng và triển khai cơ chế chính sách phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp trên địa bàn Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay.
Chính sách từ Trung ương: Từ năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng. Điều đó cho thấy, sự cần thiết của việc xây dựng mô hình liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ nông sản, điểm then chốt trong quá trình tái cơ cấu, được phát hiện từ rất sớm. Nhưng tiếc rằng quá trình triển khai chưa đồng bộ, nên chưa xây dựng và nhân rộng nhiều các mô hình liên kết trên địa bàn Quảng Ngãi, cũng như trong cả nước. Gần đây nhiều chính sách quan trọng được ban hành như Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tái cơ cấu nông nghiệp; Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; Nghị định 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn; Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 04/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020; Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản… nhằm phát triển khu vực nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân. Các chính sách nêu trên, hầu hết phục vụ cho quá trình tái cơ cấu nông nghiệp. Trong đó, nhiều chính sách qui định rất thông thoáng, cho phép ưu đãi với mức cao cho doanh nghiệp và nông dân, đồng thời Trung ương giao cho chính quyền địa phương quyết định về các mức ưu đãi, hỗ trợ cụ thể, phù hợp với khả năng ngân sách từng địa phương trên cơ sở chính sách của trung ương. Tỉnh Quảng Ngãi, từ năm 2002 đến nay đã có những quan tâm nhất định triển khai thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn. Có nhiều chỉ đạo, đưa ra các giải pháp, bố trí nguồn lực để triển khai, thực hiện các chính sách của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ nêu trên, trong đó tập trung nhiều nhất là giai đoạn 2012 -2014. UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có Kế hoạch số 2103/KH-UBND ngày 29/6/2012 về phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2015; công văn số 3867/UBND –NNTN ngày 29/10/2012 chỉ đạo đẩy mạnh triển khai thực hiện các nguồn vốn tín dụng đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Quyết định số 34/2013/QĐ-UBND ngày 07/8/2013 về chính sách hỗ trợ khuyến khích dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2013-2020; Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 24/6/2014 ban hành Quy định chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển hợp tác xã; công văn số 3154/UBND –NNTN ngày 23/7/2014 về việc triển khai thực hiện Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn… Hội đồng nhân dân tỉnh cũng vừa ban hành Nghị quyết số 10/2015/NQ-HĐND ngày 20/7/2015 về chính sách hỗ trợ đặc thù khuyến khích Doanh nghiệp, HTX đầu tư vào nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2015-2020. Như vậy, thời gian qua tỉnh cũng đã tập trung cho công tác xây dựng và triển khai các cơ chế chính sách để phát triển nông nghiệp nông thôn, nhất là tập trung đầu tư theo chương trình xây dựng nông thôn mới, đã đem lại một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, xét về cơ chế chính sách để phục vụ cho tái cơ cấu thì nhìn chung còn chậm và còn một số hạn chế: - Chính sách tỉnh ban hành còn mang tính riêng lẻ, một số thể hiện ở dưới dạng công văn thông thường, nhằm vào công tác chỉ đạo triển khai là chính; chưa tận dụng hết những ưu đãi từ Trung ương để ban hành nhằm tạo đột phá thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nông nghiệp. - Một số chính sách được ban hành nhưng phạm vi còn bị bó hẹp trong một số lĩnh vực, một số đối tượng khuyến khích, chưa bao quát toàn diện; còn thiếu những chính sách để phát huy tiềm năng lợi thế của tỉnh, như chính sách về liên kết trong chế biến lâm sản, thủy sản, nhằm khuyến khích rộng rãi cho nhiều người dân được tham gia và hưởng lợi từ chính sách (như Nghị quyết số 10/2015/NQ-HĐND vừa mới ban hành nhưng chỉ khuyến khích ở một số lĩnh vực chăn nuôi và giết mổ gia súc, rau an toàn và cây dược liệu). - Việc xây dựng ban hành chính sách triển khai Quyết định 80/2002/QĐ-TTg, Nghị định 210/2013/NĐ-CP còn chậm…Quyết định số 34/2013/QĐ-UBND về dồn điền đổi thửa thì đến cuối năm 2014 mới chỉ có 3 xã triển khai trên thực tế là Bình Dương, Tịnh Giang và Tịnh Trà… Để triển khai thành công quá trình tái cơ cấu nông nghiệp, trên cơ sở chính sách của Trung ương, dựa vào tiềm năng, lợi thế và nguồn lực hiện có của địa phương, cần thiết phải xây dựng một hệ thống cơ chế chính sách phù hợp, đủ mạnh để thúc đẩy quá trình tái cơ cấu. Tôi xin đề xuất một số nội dung về xây dựng và triển khai cơ chế chính sách phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp tại Quảng Ngãi như sau: 1. Về quan điểm: Tái cơ cấu trong nông nghiệp với mục tiêu trước mắt là tái cơ cấu về đầu tư từ ngân sách nhà nước cho nông nghiệp nông thôn, tái cơ cấu loại, giống cây trồng, vật nuôi, tái cơ cấu lực lượng sản xuất (qui mô đất đai, sản xuất hàng hóa lớn, liên kết thay cho sản xuất tự tiêu nhỏ lẻ, áp dụng KHKT thay cho sản xuất tự phát, thủ công…). Đây là quá trình thay đổi lớn, tác động vào thói quen, nếp nghĩ, cách làm của của hàng trăm ngàn hộ nông dân. Do đó yêu cầu của cơ chế chính sách phải tác động, thúc đẩy và quản lý tốt sự thay đổi này. Quá trình này phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Đồng thời chính sách ở tỉnh cần thể chế sao cho bao quát được các cơ chế chính sách ở Trung ương, phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh, bằng những văn bản pháp quy, tránh phân tán khó triển khai thực hiện. 2. Một số cơ chế chính sách cần được ban hành: 2.1- Chính sách phục vụ tái cơ cấu đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn. Cần rà soát lại trong lĩnh vực đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp nông thôn để có cơ sở xây dựng chính sách đầu tư mới. Trong đó cần chú trọng và bám sát mục tiêu đầu tư để phục vụ cho quá trình tái cơ cấu để bố trí đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đồng thời hàng năm ngân sách tỉnh cần trích từ 2-5% để hình thành nguồn vốn hỗ trợ các dự án khuyến khích doanh nghiệp, hộ nông dân. 2.2- Chính sách khuyến khích dồn điền đổi thửa, gắn với thay đổi giống vật nuôi cây trồng. Đây là 2 nội dung cơ bản, tiền đề cho tái cơ cấu nông nghiệp, giúp cho sản xuất lớn hàng hóa, giảm chi phí sản xuất, tạo điều kiện cho liên kết và nhất là sớm thay thế những vật nuôi cây trồng kém hiệu quả. Sửa đổi chính sách dồn điền đổi thửa cần đa dạng hơn không cứng nhắc theo qui định bắt buộc phải đạt 10ha trên một thôn như chính sách hiện hành, mà nên tạo điều kiện cho tất cả nông dân có đất đều được tham gia đề án. NSNN cần hỗ trợ kinh phí cho các địa phương xây dựng và triển khai đề án, kinh phí hỗ trợ nông dân các và các chi phí phát sinh, bù chênh lệch về giá trị đất, các thiệt hại nếu có khi dồn điền đổi thửa và thay đổi giống vật nuôi cây trồng. 2.3- Chính sách ưu đãi khuyến khích cho DN và người dân tham gia vào hợp đồng liên kết sản xuất tiêu thụ hàng hóa là nông lâm thủy sản, nhất là các hợp đồng bao tiêu mang tính ổn định, lâu dài. Doanh nghiệp được hỗ trợ chi phí lãi vay, chi phí vận chuyển…; Hộ nông dân được hỗ trợ chi phí giống, kỹ thuật, phí bảo hiểm thiên tai, dịch bệnh…Trong quá trình triển khai chính sách này đặc biệt quan tâm ngay đến lâm sản, thủy sản. Đây là 2 lĩnh vực có lợi thế, số đông người tham gia để nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo. 2.4- Chính sách khuyến khích chuyển đổi Hợp tác xã. NSNN hỗ trợ kinh phí xây dựng đề án rà soát các HTX, chỉ cho phép tồn tại các HTX chuyển đổi, hoặc thành lập mới theo đúng luật HTX năm 2012. 2.5- Chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn: Doanh nghiệp được hỗ trợ như các điểm trên còn được ưu đãi về tiền thuê đất nếu thuộc danh mục kèm theo nghị định 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013; được hỗ trợ tiền thuê đất, mặt nước của hộ gia đình, cá nhân; được hỗ trợ đầu tư khác theo Nghị định 210/2013/NĐ-CP. Để xây dựng và triển khai được các cơ chế chính sách trên, tỉnh nên thành lập một tổ liên ngành để nghiên cứu dự thảo các chính sách, trên cơ sở các báo cáo đánh giá thực trạng tình hình sản xuất nông nghiệp, qui hoạch và chiến lược phát triển ngành trong những năm đến. Ngoài ra, cần sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị thì công tác xây dựng và triển khai các chính sách mới đạt kết quả, góp phần thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nông nghiệp thành công./.
Th.S. Nguyễn Văn Luyện Hội Khoa học Kinh tế tỉnh Quảng Ngãi Theo Bản tin KH&ĐS số 3/2015 | |
|
Bản quyền ©2012 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi | |