| Phân vùng khí hậu tỉnh Quảng Ngãi | |
| Ngày đưa: 06/08/2015 02:35:18 PM |
|
![]() Quảng Ngãi là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, có một chế độ bức xạ mặt trời rất phong phú của vùng nhiệt đới. Sự tác động của điều kiện bức xạ mặt trời, hoàn lưu khí quyển và vị trí - địa hình là nhân tố quan trọng hình thành khí hậu.
Tỉnh có vùng núi, trung du và đồng bằng ven biển sát nhau, bên cạnh đó là nơi chịu ảnh hưởng các nhiễu động nhiệt đới (bão, áp thấp nhiệt đới) kết hợp gió mùa Đông Bắc vào mùa mưa và gió mùa Tây Nam, áp thấp nóng phía Tây vào mùa hè đã tạo nên đặc điểm khí hậu rất riêng cho Quảng Ngãi. Căn cứ vào yêu cầu thực tiễn cần phải phân vùng khí hậu các vùng trong tỉnh, để từ đó làm căn cứ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương như du lịch, công nghiệp, đô thị và đặc biệt là nông nghiệp. Dựa vào các tiêu chí cơ bản: địa hình, bức xạ mặt trời, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm .. Từ kết quả nghiên cứu đề tài khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Ngãi vừa qua đã phân định các vùng khí hậu cơ bản của tỉnh Quảng Ngãi như sau: 1) Vùng khí hậu núi cao và núi vừa - có độ cao > 500m (Vùng I trên bản đồ) Tổng nhiệt độ năm dưới 85000C; tổng lượng bức xạ năm 130kcal/cm2/năm; tổng số giờ nắng trong năm dưới 1900 giờ và tổng lượng mưa năm trên 3000mm có các khu vực sau: Khu vực khí hậu phía tây bắc Trà Bồng; khu vực khí hậu phía nam gồm phần phía tây các huyện Minh Long, Ba Tơ và tây nam huyện Sơn Hà. Ngoài ra còn có phần lớn diện tích huyện Sơn Tây, một phần tây nam huyện Tây Trà, tuy nhiên những vùng này có tổng lượng mưa năm dưới 2600mm. 2) Vùng khí hậu núi thấp và trung du (Vùng II trên bản đồ) Trong vùng khí hậu này có tổng nhiệt độ trung bình năm từ 8500oC đến 9300oC; tổng lượng bức xạ năm từ 130kcal/cm2.năm đến 140kcal/cm2.năm; tổng số giờ nắng từ 1900giờ đến 2100giờ/năm và có tổng lượng mưa năm từ 2600mm đến 3000mm. Gồm những khu vực sau: Khu vực khí hậu phía đông huyện Trà Bồng, phía tây huyện Bình Sơn, phần lớn huyện Sơn Hà, một số xã phía tây huyện Sơn Tịnh, phía tây các xã Nghĩa Thắng, Nghĩa Thuận, Nghĩa Thọ. Ngoài ra, một số nơi có cùng về tổng lượng bức xạ, nhiệt độ và số giờ nắng nhưng lại có sự biến động về lượng mưa từ 2100mm đến trên 3000mm và tăng đột ngột từ tây sang đông gồm: Phía đông các xã: Long Sơn, Long Mai,Thăng An, các xã thuộc phía tây các huyện: Nghĩa Hành, Ba Tơ; Long Hiệp (Minh Long), phía tây xã Đức Phú, phần lớn xã Phổ Phong, phía tây các xã Phổ Cường và Phổ Thạnh. 3) Vùng khí hậu đồng bằng, duyên hải và đảo Lý Sơn Trong vùng khí hậu này có tổng nhiệt độ năm trên 9300oC; tổng lượng bức xạ trên 140kcal/cm2. năm và trên 2100 giờ nắng/năm. Căn cứ vào tổng lượng mưa năm, ta có 3 tiểu vùng như sau: a) Tiểu vùng khí hậu phía đông các huyện: Bình Sơn, Sơn Tịnh; toàn bộ TP Quảng Ngãi và huyện Tư Nghĩa; phần lớn huyện Nghĩa Hành (trừ các xã Hành Tín Đông, Hành Tín Tây, Hành Thiện, phía tây các xã: Hành Dũng, Hành Thịnh, Hành Phước). Tổng lượng mưa năm của tiểu vùng này từ 2100mm - 2600mm. b) Tiểu vùng khí hậu thuộc phần lớn huyện Mộ Đức, Đức Phổ. Tổng lượng mưa năm của tiểu vùng dưới 2100mm. Đây là một tiểu vùng nắng nhiều và mưa ít nhất Tỉnh; trong đó hàng năm 2 tháng II và III có lượng mưa rất thấp, là thời kỳ ít mưa nhất trong năm. c) Tiểu vùng khí hậu thuộc huyện đảo Lý Sơn, tổng lượng mưa năm của tiểu vùng này từ 2100mm - 2600mm, là vùng có khí hậu hải dương khá đặc sắc. Trên đây là các vùng khí hậu được phân chia từ những độ cao địa hình, các yếu tố khí tượng, tuy nhiên, những năm gần đây diễn biến thời tiết ngày càng phức tạp, khôn lường. Biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ tiếp tục mạnh mẽ, thời tiết cực đoan diễn ra với tần suất nhiều hơn, mạnh hơn ở tỉnh ta như lũ lịch sử trên sông Trà Bồng năm 2009, trên sông Trà Khúc, sông Vệ năm 2013, đợt nắng nóng kéo dài lịch sử từ tháng 5 đến nay trong năm 2015 đã chứng minh điều này. Do đó để thích ứng với sự biến đổi khí hậu mạnh mẽ cần sự vào cuộc của các cấp chính quyền và nhất là người dân để có biện pháp hữu hiệu giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra./.
KS. Nhâm Xuân Sỹ Giám đốc Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Theo Bản tin KH&ĐS số 2/2015 | |
|
Bản quyền ©2012 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi | |