Nghiên cứu sử dụng tế bào gốc tạo máu tự thân: Phương pháp mới trong điều trị ung thư
Ngày đưa:  06/02/2015 03:16:02 PM In bài
Đề tài cấp Nhà nước độc lập đầu tiên "Nghiên cứu sử dụng tế bào gốc tạo máu tự thân trong điều trị ung thư vú và ung thư buồng trứng” do PGS.TS. Nguyễn Duy Thăng - Phó giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế làm chủ nhiệm đề tài đã được thực hiện thành công, mở ra phương pháp mới trong điều trị ung thư ở Việt Nam nói chung và ung thư vú, ung thư buồng trứng nói riêng. Đây cũng là một trong 10 sự kiện khoa học công nghệ nổi bật của Việt Nam năm 2014 vừa được tôn vinh.

Thưa PGS.TS. Nguyễn Duy Thăng, ông có thể giới thiệu về phương pháp điều trị sử dụng tế bào gốc tạo máu tự thân trong điều trị ung thư vú và ung thư buồng trứng?

PGS.TS Nguyễn Duy Thăng: Theo các chuyên gia ung thư, bệnh ung thư vú, ung thư buồng trứng đối với phụ nữ gây tử vong khá cao. Theo thống kê, hàng năm có tới khoảng 22.000 trường hợp mắc và 16 ngàn trường hợp tử vong, một con số đáng kể do đa số bệnh nhân phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn. Phương pháp điều trị bệnh truyền thống gồm phẫu thuật giảm khối u, truyền hóa chất hoặc kết hợp với xạ trị. Nhưng thực tế, với phương pháp  điều trị này, thời gian bệnh nhân sống thêm 5 năm chỉ vào khoảng 20% do họ đã ở giai đoạn muộn.

Ghép tế bào gốc tạo máu tự thân là phương pháp điều trị hiện đại đang được ứng dụng nhiều trong điều trị các bệnh lý ác tính về máu và ung thư. Phương pháp này dùng hóa chất diệt toàn bộ tế bào ung thư từ gốc, làm sạch tủy để ghép tế bào lành tính. Một số bệnh nhân mắc ung thư buồng trứng, ung thư vú giai đoạn muộn đã được áp dụng phương pháp sử dụng tế bào gốc tạo máu tự thân thành công, các thông số cơ bản của bệnh nhân đã trở lại bình thường, sức khỏe tốt và được xuất viện.

Như trường hợp của bệnh nhân Lê Thị S. (Thừa Thiên Huế) nhập viện vào tháng 10/2012, trong tình trạng ung thư cổ tử cung giai đoạn cuối, sự sống rất mong manh. May mắn, bệnh nhân đã thoát khỏi ''''cửa tử'''', trở lại cuộc sống bình thường nhờ ghép tế bào gốc tạo máu tự thân. Sau khi phẫu thuật hai lần, bệnh nhân tiếp tục được hóa trị liều cao dưới sự hỗ trợ bằng phương pháp sử dụng tế bào gốc tạo máu tự thân. Cụ thể, bệnh nhân được thu thập tế bào của chính mình, bảo quản ở nhiệt độ rất thấp, sau đó bệnh viện dùng chính tế bào này để ghép cho bệnh nhân, qua nhiều bước can thiệp điều trị và áp dụng phương pháp tế bào gốc để hồi phục sức khỏe cho bệnh nhân. Sau đó là chị Trần Thị T, 49 tuổi, cũng được điều trị bằng phương pháp trên. Đây là hai bệnh nhân sau khi được áp dụng phương pháp điều trị mới đã xuất viện khỏe mạnh. Ra viện được một năm, họ vẫn lao động và làm việc bình thường, vẫn tiếp tục tái khám sau 3 tháng, 6 tháng, một năm rất ổn định. 

Thành công của đề tài mở ra phương pháp mới trong điều trị ung thư ở Việt Nam nói chung và ung thư vú, ung thư buồng trứng nói riêng.

Ông có thể cho biết, phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân trong điều trị ung thư vú và ung thư buồng trứng có điểm gì tích cực hơn so với cách hiện nay?

PGS.TS Nguyễn Duy Thăng: Thực tế, việc điều trị bằng phương pháp kinh điển nếu ở giai đoạn muộn sẽ thất bại bởi nếu tiếp tục điều trị thì bệnh nhân rơi vào tình trạng suy tủy không hồi phục dẫn tới tử vong hoặc tử vong không phải do ung thư mà do nhiễm trùng. Điểm mới của đề tài này là sử dụng tế bào gốc tạo máu tự thân trong quá trình điều trị, nghĩa là sau khi điều trị cơ bản xong như trước đây, các bác sỹ phải tách tế bào gốc của bệnh nhân, thu lại và bảo quản ở nhiệt độ thích hợp (-196 độ C). Sau đó tiếp tục điều trị hóa trị liều cao và nhắm đích, điều trị triệt để các tế bào ung thư di căn mà trước đây không làm được. Đồng thời có tế bào gốc để ghép lại cho bệnh nhân để có tủy mới tốt hơn. Vấn đề sống còn của người bệnh là phải ở trong môi trường vô trùng tuyệt đối trong thời gian kéo dài hàng tháng để ghép tủy, truyền các chế phẩm máu, hồng cầu, tiểu cầu.

Trong quá trình thực hiện đề tài, ông và tập thể thầy thuốc Bệnh viện Trung ương Huế gặp những khó khăn gì?

PGS.TS. Nguyễn Duy Thăng: Khó khăn lớn nhất mà giai đoạn đầu chúng tôi gặp phải là thuyết phục bệnh nhân tham gia nghiên cứu, vì đây là lần đầu tiên. Nhưng bây giờ bệnh nhân lại tìm đến với mình. Giai đoạn đầu dù chúng tôi đã chuẩn bị đầy đủ nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, trang thiết bị hiện đại, đồng bộ và được Hội đồng cấp Nhà nước thẩm định và cho phép, nhưng phải diễn tập nhiều lần để trở thành "một dàn hợp xướng hoàn hảo” mới có thể thực hiện tốt được. 

Với những kết quả đã đạt được, trong thời gian tới Bệnh viện trung ương Huế sẽ ứng dụng trong việc điều trị và chuyển giao công nghệ điều trị mới này như thế nào?

PGS.TS. Nguyễn Duy Thăng: Hiện tại Bệnh viện Trung ương Huế có 20 bệnh nhân đang điều trị theo lộ trình, trong đó có 8 bệnh nhân ung thư vú và 12 bệnh nhân mắc ung thư buồng trứng. 2 bệnh nhân đã ra viện và tới đây sẽ có thêm bệnh nhân nữa sẽ ra viện. Trong thời gian tới, Bệnh viện sẽ tiếp tục điều trị cho người bệnh ung thư vú và ung thư buồng trứng trong trường hợp những phương pháp điều trị thông thường bế tắc nhằm kéo dài thời gian cho người bệnh sống tốt và có thể lao động gần như người bình thường. Nhiều người bệnh ung thư vú và buồng trứng đã đến đăng ký thực hiện. Chỉ riêng từ đầu tháng 12 đến nay cũng đã có tới 30 - 40 trường hợp đăng ký.

Theo kế hoạch, đến tháng 12/2015 chúng tôi sẽ tổng kết đề tài tại Bộ Khoa học và Công nghệ và có thể chuyển giao công nghệ cho một số cơ sở lớn. Những nơi đó phải có nguồn nhân lực đảm bảo trình độ nhận chuyển giao, đó là gốc vấn đề. Thứ nữa phải có cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hiện đại, đồng bộ.

Ông có thể chia sẻ cảm xúc khi thành công của việc điều trị bệnh ung thư bằng ghép tế bào gốc vừa được bình chọn là một trong 10 sự kiện khoa học công nghệ tiêu biểu của năm 2014?

PGS.TS. Nguyễn Duy Thăng: Không thể tin được đúng vào lúc 23h33, ngày 24/12 vừa qua, VTV1 đưa tin 10 sự kiện Khoa học Công nghệ tiêu biểu năm 2014 có tên công trình của mình. Đây là sự động viên quá lớn lao đối với bản thân tôi, tập thể y, bác sĩ trong nhóm đề tài đang ngày đêm thực hiện 3 cùng với bệnh nhân "cùng ăn, cùng ngủ và cùng chống lại bệnh quái ác” và Bệnh viện Trung ương Huế cũng như đối với ngành Y tế trong năm 2014.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

 

Theo Vusta

 


Bản quyền ©2012 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi