| Ương giống cá chình tại Quảng Ngãi | |
| Ngày đưa: 14/07/2014 09:50:20 AM |
|
![]() Cho đến thời điểm hiện nay, kể cả trên phạm vi thế giới, chưa có nơi nào cho cá chình đẻ nhân tạo, như vậy giống cá chình hoàn toàn trong tự nhiên song không phải ở bất cứ nơi nào cũng có cá giống vì đặc tính sinh sản của cá chình khác với những giống thủy sản khác là sinh trưởng ở vùng nước ngọt (sông, suối …) sinh sản ở môi trường nước mặn (biển) tại những vị trí nhất định trên đại dương. Chính vì thế để có nguồn giống chủ động, chất lượng phục vụ cho nghề nuôi thì tất yếu phải có điều tra phát hiện nguồn giống và nghiên cứu kỹ thuật công nghệ ương giống.
Ương cá chình giống trong hồ xi măng NGUỒN GIỐNG CÁ CHÌNH TỰ NHIÊN TẠI QUẢNG NGÃI. Theo kết quả điều tra phát hiện của các tác giả Chu Văn Công (Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III, Nha Trang), Nguyễn Minh Phát (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên), PGS-TS. Võ Văn Phú, Nguyễn Thanh Đăng (Trường Đại học Huế) và các cơ quan Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định, Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật Nông lâm nghiệp Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi cho thấy: Các tỉnh duyên hải miền Trung từ Hà Tĩnh đến Khánh Hòa hàng năm từ tháng 11-12, cá chình bột từ ngoài biển đi vào các cửa sông và di thực dần về phía thượng lưu, sản lượng cá giống vào nhiều, ít tùy thuộc theo từng năm.
Riêng tại Quảng Ngãi theo kết quả điều tra khảo sát nguồn lợi cá chình giống của Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật Nông lâm nghiệp Dung Quất (Đề tài “Thực nghiệm quy trình công nghệ ương cá Chình bột (Anguilla marmorata) lên cá Chình giống tại Quảng Ngãi”) tóm tắt như sau: - Đặc điểm thủy văn, thủy vực Quảng Ngãi có hệ thống mạng lưới sông ngòi phân bổ đều trong tỉnh, từ hạ du đến vùng thượng du, đặc biệt có 4 cửa sông lớn đổ ra biển, phần hạ lưu các sông này chịu ảnh hưởng triều và xâm nhập mặn, chính từ đặc điểm này thích hợp yêu cầu môi trường nước, đường đi của quá trình di cư cá chình từ biển vào sông lên thượng nguồn. - Thành phần loài cá chình tại Quảng Ngãi chủ yếu chỉ mới phát hiện 02 loại là chình bông (Anguilla marmorata), Chình mun (Anguilla bicolor) thuộc giống Anguilla, họ Anguillidae, bộ Anguilliformes. Trong đó chình bông chiếm đại đa số so với chình mun. Ngoài ra, theo một số ngư dân cho biết còn có các loại chình chuối, chình tai, chình lộ, chình trơn nhưng chưa có cơ sở mẫu thực tế để xác định. - Phân bổ cá chình có mặt ở tất cả các sông lớn có cửa đổ ra biển từ sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ đến sông Trà Câu. Trên một dòng sông, cá bột (màu trắng trong, trọng lượng < - Mùa vụ xuất hiện cá chình bột tại các cửa sông và thượng lưu cửa sông thường bắt đầu từ tháng 12-5, khi dòng chảy trên các cửa sông giảm và có gió mùa đông bắc thổi về, lúc bấy giờ việc xâm nhập mặn ở cửa sông bắt đầu. Cá hương xuất hiện chậm hơn từ 1 – 2 tháng sau và thường xuất hiện từ thượng lưu cửa sông về thượng nguồn sông, khu vực này rất ít bị ảnh hưởng thủy triều và xâm nhập mặn, cá hương có mặt gần như quanh năm song tập trung chính từ tháng 1 – 7 dương lịch. - Trữ lượng cá chình bột, cá chình hương chưa có thể định lượng được dù là tương đối vì ngư dân Quảng Ngãi không đánh bắt loài cá này; cá xuất hiện hàng năm nhiều ít hoàn toàn phụ thuộc vào lượng cá nở ngoài biển (ấu trùng, cá dạng lá liễu) khi vào cửa sông về thượng nguồn luôn chịu sự tác động của khí hậu, thủy văn và thiên địch. - Ở Quảng Ngãi chỉ mới đánh bắt cá chình thịt, cá giống loại cá cỡ 20-100 g/con, còn lại cá bột, cá hương chưa có tập quán đánh bắt như ở Phú Yên, Bình Định. Theo quy luật cá bột ở cửa sông di cư dần về thượng nguồn và phát triển thành cá hương mùa khô, cá giống (20-100 g/con) và cá thịt xuất hiện quanh năm nhưng tập trung vào lũ tiểu mãn (mùa khô) và lũ đầu mùa (mùa mưa). - Công cụ đánh bắt cá chình (giống và thịt) vẫn là công cụ đánh bắt truyền thống trên sông của ngư dân, trong thời gian gần đây có thêm 2 công cụ được áp dụng là xung điện và lồng bẫy xếp Trung Quốc. Xét về mặt bảo vệ nguồn lợi thì đây là 2 công cụ đánh bắt mang tính huỷ diệt đang bị nhà nước cấm sử dụng. Ngoài ra tại Quảng Ngãi ngư dân chưa có công cụ chuyên dùng để đánh bắt cá bột, cá hương, một số công cụ có thể đánh bắt được cá bột là đăng, cá hương là nhá, trúm thậm chí dùng cả mùng. - Sản lượng đánh bắt cá chình giống (20-100g/con) không nhiều (3.000 kg/năm), không đáp ứng đủ nhu cầu trong và ngoài tỉnh, đồng thời công cụ đánh bắt chủ yếu là xung điện sẽ hủy diệt, không đảm bảo chất lượng giống ngoài ra tác động vô tình của các đập ngăn sông ở hạ lưu hạn chế di cư cá hương cũng sẽ làm giảm lượng cá giống, cá thịt về phía thượng lưu đập và vùng thượng du các sông. Qua những vấn đề nêu trên có thể khẳng định rằng Quảng Ngãi có nguồn giống cá chình tự nhiên, chủ yếu là cá chình bông, hiện nay ngư dân chưa đánh bắt cá bột, cá hương (vì không có cơ sở ương giống) mà chỉ đánh bắt cá giống có trọng lượng từ 20-100g/ con để bán cho người nuôi trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên sản lượng không nhiều, chất lượng cá giống kém (do dùng điện và câu). ƯƠNG NUÔI CÁ GIỐNG TỪ TỰ NHIÊN Như đã trình bày ở phần trên, từ nguồn giống cá chình trong tự nhiên để chủ động nguồn giống cung ứng và hạn chế những nhược điểm chất lượng cho người nuôi, ngoài đánh bắt cá giống tự nhiên (20-100g/con), chúng tôi đề xuất 2 phương án ương cá chình giống sau: 1.Phương án ương cá giống từ cá bột:
Với phương án này có những ưu nhược điểm sau: - Giảm hao hụt tự nhiên do thiên địch, dịch bệnh ở giai đoạn cá bột lên cá hương từ đó tăng sản lượng cá giống. - Tuy nhiên yêu cầu cơ sở vật chất, trang thiết bị đầu tư lớn, trình độ kỹ thuật, kỹ năng cao, hiện tại chưa có kỹ thuật khai thác cá bột tại cửa sông phù hợp nên tính khả thi của phương án này không cao, trước mắt là khó áp dụng. 2. Phương án ương cá giống từ cá hương:
So với phương án ương từ cá bột, phương án này do bỏ công đoạn từ cá bột lên cá hương nên tổn thất nguồn cá giống ngoài tự nhiên nhiều (do thiên địch, dịch bệnh), song lại có những lợi thế sau: - Cá hương dễ khai thác đánh bắt bằng các công cụ đơn giản. - Tỉ lệ hao hụt trong quá trình ương thấp. - Giảm được chi phí ương do không cần môi trường nước lợ - Yêu cầu cơ sở vật chất, trang thiết bị đầu tư ít, nguồn thức ăn, trình độ kỹ thuật, kỹ năng ương không nghiêm ngặt như ương từ cá bột. Từ đó cho thấy chọn phương án ương từ cá hương là có tính khả thi cao trong điều kiện hiện nay tại tỉnh ta. Tuy nhiên để áp dụng được phương án ương từ cá hương cần có những yêu cầu sau: - Tổ chức hoặc cá nhân thực hiện ương giống phải có chức năng nhiệm vụ hoặc có đăng ký ngành nghề kinh doanh về giống thủy sản. - Có mặt bằng sản xuất (mặt đất, mặt nước), đạt yêu cầu vừa ương trong hồ, vừa ương trong lồng, vị trí gần nguồn nước sạch, cách ly được ô nhiễm môi trường (chất thải, tiếng ồn), có nguồn điện ổn định, thuận tiện giao thông. - Đủ vốn đầu tư xây dựng nhà ương nuôi, mua sắm lắp đặt trang thiết bị chuyên dùng (hệ thống lọc tuần hoàn nước, hệ thống sục khí, thiết bị chế biến bảo quản thức ăn, máy xay, tủ cấp đông .v.v.). - Có nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn sâu, kỹ năng thực hành tốt, đảm bảo thực hiện nghiêm, đúng quy trình và linh hoạt sáng tạo trong quá trình ương và khi xử lý sự cố kỹ thuật. - Có quy trình kỹ thuật công nghệ ương nuôi con giống, tạm thời áp dụng quy trình kỹ thuật ương nuôi cá chình giống của Trung tâm Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Dung Quất và hướng dẫn kỹ Tóm lại Quảng Ngãi có nguồn cá chình giống, đã có kết quả nghiên cứu về ương nuôi cá giống, thị trường trong và ngoài tỉnh có nhu cầu cá giống nên việc tổ chức ương giống cá chình tại tỉnh ta là khả thi và có nhiều lợi thế so sánh./. KS. Bùi Hữu Chỉnh Theo Bản tin Khoa học & Đời sống số 2/2014 | |
|
Bản quyền ©2012 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi | |