| Phát triển nghề nuôi cá chình lồng tại Quảng Ngãi | |
| Ngày đưa: 15/04/2014 11:08:40 AM |
|
|
Quảng Ngãi, một trong các tỉnh duyên hải Trung Trung bộ, có được sự ưu ái của tự nhiên là nguồn lợi cá chình trên thủy vực của tỉnh. Theo kết quả điều tra của đề tài Thực nghiệm quy trình công nghệ ương cá chình bột (Anguilla marmorata) lên cá chình giống tại Quảng Ngãi, Quảng Ngãi có được 2 nguồn lợi cá chình là cá chình thịt và cá chình giống. Từ 2 nguồn lợi này kết hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội, Quảng Ngãi có nhiều ưu thế phát triển nghề nuôi cá chình nói chung, cá chình lồng nói riêng.
Làng nuôi cá chình trên sông Trà Khúc I. NHỮNG ƯU THẾ VÀ ĐIỀU KIỆN HỘI ĐỦ ĐỂ QUẢNG NGÃI PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI CÁ CHÌNH LỒNG. 1. Về điều kiện mặt nước ngọt: Thủy vực Quảng Ngãi rất đa dạng, phong phú với mạng lưới sông suối phân bổ khắp địa bàn toàn tỉnh, trong đó có 4 sông chính là Trà Bồng, Trà Khúc, Sông Vệ, Trà Câu phân đều ở các huyện đồng bằng từ Bắc vào Nam tỉnh, thượng lưu của các sông này đều ở các huyện miền núi. Hay nói khác hơn là 13 trong 14 huyện, thành phố của tỉnh đều có mặt nước của sông suối chảy qua. Cộng vào đó, tỉnh có hàng trăm hồ, đập thủy lợi, thủy điện lớn nhỏ với trên ngàn ha mặt nước. Như vậy xét về không gian, mặt nước ngọt Quảng Ngãi có đủ điều kiện tối ưu để phát triển nghề nuôi cá chình lồng.
Mạng lưới sông ngòi ở Quảng Ngãi 2. Về điều kiện nguồn cá giống. Quảng Ngãi hằng năm đều có nguồn giống cá chình tự nhiên bổ sung từ biển vào các cửa sông lớn, chủ yếu là loài cá chình bông đang được thị trường ưa thích. Vấn đề còn lại là cần có giải pháp kỹ thuật khai thác hợp lý và ương nuôi chủ động nguồn cá giống thì sẽ đảm bảo đủ giống cung ứng cho nghề nuôi. Đây là lợi thế so sánh so với các tỉnh phía Nam vì miền Nam muốn nuôi phải mua giống từ miền Trung.
Cá chình bột trên cửa sông Trà Khúc 3. Về điều kiện khoa học công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn. Trong phạm vi thế giới (khu vực Đông Bắc Á) và trong nước đã có nhiều đề tài khoa học công nghệ nghiên cứu và có kết luận về kỹ thuật nuôi cá chình nói chung, cá chình lồng nói riêng, không chỉ nuôi cá thịt mà cả ương cá giống. Sau các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ là những dự án khoa học công nghệ, dự án khuyến ngư đã xây dựng thành công những mô hình nuôi cá chình như nuôi sản xuất hàng hóa đặc thù quy mô lớn ở Tây Nam bộ (Cà Mau, Đồng Tháp …); nuôi quy mô nhỏ khai thác lợi thế so sánh ở miền Trung (Quảng Trị đến Phú Yến) và ngay tại Quảng Ngãi đã hình thành làng nuôi cá chình lồng trên sông Trà Khúc. Qua đó cho thấy rằng về mặt khoa học công nghệ và thực tiễn sản xuất nuôi cá chình dù ở quy mô nào cũng cho kết quả khả quan.
Ương nuôi cá chình giống tại Trung tâm Hỗ trợ Nuôi cá chình thịt trên sông Trà Khúc kỹ thuật Nông lâm nghiệp Dung Quất 4. Về điều kiện nguồn thức ăn tươi sống. Ngoài nguồn thức ăn tự nhiên có trong nước sông, suối, hồ, đập, nguồn thức ăn chính, chủ động để nuôi cá chình lồng là các loài cá nhỏ đánh bắt ở sông, biển; đối với đánh cá nước ngọt khá thuận lợi vì mạng lưới sông ngòi dày đặc, nghề đánh bắt đã có từ lâu đời nên khả năng khai thác nguồn thức ăn này là không khó. Bên cạnh đó Quảng Ngãi có trên 120km bờ biển với nhiều bãi ngang, nghề đánh cá biển hàng năm đã thu về khối lượng cá không ít. Đây là nguồn thức ăn chủ động thứ 2 sau nguồn cá nước ngọt. Như vậy nguồn cá nhỏ đánh bắt từ biển và sông suối trong tỉnh hội đủ sản lượng để cung cấp cho nghề nuôi cá chình tại tỉnh.
Nghề nuôi cá chình lồng không yêu cầu nguồn nhân lực thời vụ, không đòi hỏi lao động khỏe. Mọi lứa tuổi lao động trong nông hộ đều có thể đáp ứng được yêu cầu, thời gian lao động được phân bổ đều trong suốt chu kỳ nuôi. Đây là nét đặc trưng về nhu cầu lao động của nghề nuôi cá chình lồng so với một số nghề khác trong sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, nguồn lao động tại nông thôn tỉnh ta khá dồi dào, thời gian lao động chưa sử dụng hết (nông nhàn), người dân vùng sông nước lại ít ruộng đât, đánh bắt cá nước ngọt hiện nay sản lượng ngày càng thấp, giá trị không cao nên nếu phát triển thêm nghề nuôi cá chình lồng thì sẽ là một việc làm “nhất cử lưỡng tiện” vừa giải quyết lao động thừa, vừa tăng thu nhập cho người dân vùng sông nước. 6. Về điều kiện thị trường tiêu thụ. Cá chình là loài thủy sản đặc sản, còn được tôn vinh là “thủy sâm” ở các nước khu vực Đông Bắc Á và kể cả ở Việt Nam. Chính vì thế mà thị trường tiêu thụ cá chình thịt rất lớn, không chỉ ở thị trường nội địa mà còn cả thị trường xuất khẩu rộng lớn ở khu vực Đông Bắc Á. Đặc biệt người ta xuất khẩu cá chình bằng đường hàng không nên chất lượng cá đến tay người tiêu thụ vẫn còn tươi sống, đó là lợi thế so sánh của cá chình so với các loài thủy sản xuất khẩu khác như tôm, cá biển, cá basa, … . Qua thông tin của các đại lý tiêu thụ cá chình trong tỉnh, gần chục năm nay vẫn không có biến động giảm về nhu cầu số lượng và giá cả, cho thấy thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước khá ổn định so với các mặt hàng thủy sản khác tại Quảng Ngãi. Từ những điều kiện nêu trên, với một cách nhìn tổng hợp có thể thấy rằng Quảng ngãi là một trong các tỉnh miền Trung có lợi thế so sánh khi phát triển nghề nuôi cá chình lồng. Tuy nhiên bên cạnh những điều kiện hội đủ, những lợi thế trên, nuôi cá chình lồng tại Quảng Ngãi còn có những bất cập đó là vốn đầu tư lớn, ô nhiễm nguồn nước (do nước thải sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp) và mưa lũ, khô hạn diễn ra ngày càng nghiêm trọng hơn ở thủy vực trong tỉnh. II. SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI CÁ CHÌNH LỒNG TẠI QUẢNG NGÃI. Từ những đặc điểm của cá chình trong tự nhiên và phân tích những điều kiện hội đủ phát triển nghề nuôi cá chình tại Quảng ngãi, qua đó chúng ta có thể khẳng định những nét cơ bản về sự cần thiết phát triển nghề nuôi cá chình lồng ở tỉnh ta như sau: - Nuôi cá chình lồng sẽ giải quyết được vấn đề bất cập đặt ra là khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy đặc sản cá chình của tỉnh thể hiện qua việc khai thác, ươngnuôi cá giống hợp lý, mở rộng nghề nuôi, giảm đánh bắt tự nhiên. - Nghề nuôi cá chình lồng thu hút lực lượng lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tạo thêm nghề thu nhập mới cho ngư dân vùng sông nước trong tỉnh, qua đó góp phần cải thiện đời sống của nông hộ trong bối cảnh ngành nông nghiệp của tỉnh đang cơ cấu lại sản xuất để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, ở nông thôn, một chỉ tiêu quan trọng của chủ trương lớn xây dựng nông thôn mới. - Thị trường đang và sẽ có nhu cầu lớn về sản phẩm cá chình, với lợi thế về con giống, mặt nước sản xuất, nguồn thức ăn, nguồn lao động, khoa học công nghệ, phát triển nghề nuôi cá chình lồng là định hướng khả thi theo mô hình mỗi làng một sản phẩm (OPOV: one product one village), một mô hình sản xuất thành công tại các nước trong khu vực, rất phù hợp với điều kiện sản xuất nhỏ tại tỉnh nhà vì mô hình sản xuất này không chỉ tạo sản phẩm đặc sản cho nhu cầu thị trường mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh cho nông hộ trong thị trường tiêu thụ khá bấp bênh, một hiện trạng của ngành Nông nghiệp Việt Nam hiện nay. III. KẾT LUẬN. Qua những vấn đề đã phân tích nêu trên, với những điều kiện khách quan, chủ quan và sự cần thiết cho thấy rằng Quảng Ngãi có thể khai thác các lợi thế so sánh tại địa phương để phát triển thêm một nghề mới, chủ động tạo ra sản phẩm đặc sản nhằm khơi nguồn thu nhập mới bền vững cho một bộ phận cư dân vùng sông nước mà ở đó hầu hết là hộ nghèo và cận nghèo. Đó là cách đi không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần về phương diện kinh tế mà còn đậm nét về mặt chính trị, xã hội là hiện thực hóa chủ trương Xây dựng Nông thôn mới của Đảng và Nhà nước hiện nay ở nông thôn tỉnh nhà./.
KS. Võ Thanh Thủy Ban KHCN-TVPB - LHH Quảng Ngãi (Theo Bản tin Khoa học và Đời sống, số 01/2014) | |
|
Bản quyền ©2012 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi | |