| Bệnh không lây nhiễm-Gánh nặng, nguy cơ và thách thức đối với ngành y tế | |
| Ngày đưa: 02/02/2016 08:41:29 AM |
|
![]() Bệnh không lây nhiễm (BKLN) là bệnh không lây truyền từ người này sang người khác hoặc từ động vật sang người. Có nhiều loại BKLN khác nhau, tuy nhiên tập trung vào 4 nhóm bệnh chính, gồm: bệnh tim mạch (tăng huyết áp, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, đột quỵ), ung thư, bệnh đường hô hấp mạn tính (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản) và đái tháo đường (chủ yếu là tuýp 2). BKLN ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước do số người mắc bệnh ngày càng tăng, bệnh gây tàn tật và tử vong cao. Kiểm soát nguy cơ gây bệnh như hút thuốc lá, lạm dụng đồ uống có cồn, dinh dưỡng không hợp lý, thực phẩm không an toàn, thiếu hoạt động thể lực, cùng với chủ động giám sát, phát hiện bệnh sớm, điều trị, quản lý liên tục và lâu dài tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu là yếu tố quyết định hiệu quả trong phòng, chống BKLN.
Bệnh nhân đang chờ khám bệnh tại Trung tâm Nội tiết tỉnh Quảng Ngãi. Các BKLN đã và đang gia tăng nhanh chóng, là thách thức của toàn cầu và là gánh nặng rất lớn đối với xã hội và hệ thống y tế, nhất là những nước có thu nhập thấp và trung bình. Hầu hết các BKLN là bệnh mạn tính, khó chữa khỏi và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật tại các quốc gia. Yếu tố nguy cơ gây BKLN thuộc về hành vi của con người như hút thuốc lá, lạm dụng đồ uống có cồn, chế độ ăn uống không hợp lý, ăn nhiều thực phẩm không tốt cho sức khỏe và ít vận động thể lực. Tỷ lệ mắc và chết do ung thư được dự báo sẽ ngày càng tăng lên trong vài thập kỷ tới ở tất cả các khu vực trên thế giới, nhưng tăng nhanh hơn ở các nước có thu nhập thấp. Với những thay đổi dự báo về dân số học trong 2 thập kỷ tới thì dù tỷ lệ mắc ung thư trên toàn cầu không thay đổi, tỷ lệ mới mắc các bệnh ung thư ước tính 12,7 triệu trường hợp (ước tỷ lệ mắc là 189,6 trên 100.000 người) vào năm 2008 sẽ tăng lên thành 17 triệu trường hợp vào năm 2020 và 21,4 triệu trường hợp vào năm 2030. trong đó gần 2/3 số trường hợp ung thư là ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính so với năm 2008, vào năm 2030 tỷ lệ tăng các trường hợp mới mắc ung thư là khoảng 82% ở các nước có thu nhập thấp, 70% ở các nước có thu nhập trung bình thấp và 58% ở các nước có thu nhập cao. Tỷ lệ hiện mắc bệnh đái tháo đường trên toàn cầu vào năm 2008 ước tính là 10% ở người trưởng thành trên 25 tuổi. Tỷ lệ này cao nhất ở khu vực Đông Địa Trung Hải và Châu Mỹ (11%) và thấp nhất ở khu vực Châu Âu và Tây Thái Bình Dương (9%). Quy mô của vấn đề còn lớn hơn nữa nếu tính cả các trường hợp tiền đái tháo đường, là nhóm có nguy cơ cao của đái tháo đường tuýp 2 và cũng có thể gây nên các biến chứng vi mạch như bệnh võng mạc, bệnh thận. Tỷ lệ mắc đái tháo đường tương đối đều trong các nhóm quốc gia phân theo thu nhập dù các nước thu nhập thấp có tỷ lệ mắc thấp nhất (8%) và các nước thu nhập trung bình cao có tỷ lệ cao nhất (10%). Tử vong do các BKLN luôn chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng tăng lên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Theo Nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu 2010, trong tổng số 52,7 triệu trường hợp tử vong, có 65,5% là do các BKLN và tỷ lệ này tăng 30% so với năm 1990; 5 trong 10 nguyên nhân tử vong chính toàn cầu là BKLN. Điều đáng báo động là các trường hợp tử vong do các BKLN ở các nước đang phát triển xảy ra ở nhóm tuổi trẻ hơn. Theo WHO, năm 2011 ước tính ở các nước có thu nhập cao, tỷ lệ tử vong do BKLN đối với người dưới 70 tuổi khoảng 26%, trong khi ở các nước thu nhập thấp và trung bình tại Đông Nam Á là 56% và Tây Thái Bình Dương là 40%. Tuổi trung bình của những người bị cơn đau tim lần đầu tiên ở Nam Á là 53 tuổi, thấp hơn 6 tuổi so với tuổi trung bình trên toàn cầu. Tỷ lệ tử vong theo loại BKLN và tỷ suất tử vong do BKLN dao động giữa các vùng. Tử vong do bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất so với tổng số trường hợp tử vong liên quan BKLN tại các nước thu nhập cao (39%), thu nhập thấp và trung bình tại Đông Nam Á (43%) và Tây Thái Bình Dương (50%). Ung thư là BKLN gây tử vong đứng thứ hai ở các nước thu nhập cao (31%) và Tây Thái Bình Dương (26%), nhưng đứng thứ 3 tại Đông Nam Á (15%). Ngược lại, các bệnh hô hấp mạn tính chỉ chiếm 7% tổng số tử vong do BKLN tại các nước thu nhập cao, nhưng 13% tại các nước thu nhập thấp và trung bình tại Tây Thái Bình Dương và 18% tại Đông Nam Á. Dự báo của WHO cho thấy trên toàn cầu tỷ lệ tử vong do BKLN sẽ tăng 15% trong khoảng thời gian từ 2010-2020 (sẽ là khoảng 44 triệu trường hợp tử vong). Tỷ lệ tăng cao nhất (khoảng 20%) là ở khu vực Châu Phi, Đông Nam Á, Đông Âu. Khu vực có số trường hợp tử vong do BKLN cao nhất vào năm 2020 là Đông Nam Á (10,4 triệu trường hợp) và Tây Thái Bình Dương (12,3 triệu trường hợp). Vào năm 2030, số trường hợp tử vong do các BKLN ở các nước có thu nhập thấp sẽ cao hơn 8 lần so với ở các nước có thu nhập cao (theo Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2014 của Bộ Y tế “Tăng cường dự phòng và kiểm soát bệnh không lây nhiễm”). Chi phí cho các BKLN là rất lớn và tiếp tục tăng lên ở các nước có thu nhập thấp và trung bình và tạo gánh nặng lớn lên kinh tế vĩ mô. Theo dự báo trong vòng 20 năm tới, bốn nhóm BKLN chính (tim mạch, ung thư, đái tháo đường, hô hấp mạn tính) và các bệnh tâm thần sẽ lấy đi của nền kinh tế toàn cầu khoảng 47 nghìn tỷ USD. Đối với các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, chi phí kinh tế cho 4 nhóm bệnh chính trong các BKLN ước tính vượt 7 nghìn tỷ USD trong khoảng thời gian từ 2011 –2025. Bốn nhóm BKLN chính và các bệnh tâm thần sẽ lấy đi của các nước đang phát triển khoảng 21 nghìn tỷ USD trong vòng 2 thập kỷ tới. Các BKLN cũng tạo gánh nặng rất lớn lên hệ thống y tế, chiếm khoảng 75% chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe (CSSK) toàn cầu và con số này sẽ tiếp tục tăng lên. Năm 2011, chỉ riêng bệnh đái tháo đường đã lấy đi của hệ thống y tế ít nhất là 465 tỷ USD hay 11% tổng chi tiêu CSSK toàn cầu. Tới năm 2030, con số này ước tính là hơn 595 tỷ USD. Tại Việt Nam, bệnh lây nhiễm có xu hướng giảm, nhưng BKLN lại có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây. Mô hình bệnh tật thay đổi với nguyên nhân tử vong do các BKLN và tai nạn thương tích đã thay thế các bệnh lây nhiễm. Các BKLN là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật, số người mắc BKLN trong cộng đồng rất lớn và ngày càng gia tăng. Ước tính Việt Nam có khoảng 12,5 triệu người mắc tăng huyết áp, 2,5 triệu người bị bệnh đái tháo đường, trên 2 triệu người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản và mỗi năm có khoảng 125.000 người mắc mới ung thư. WHO tại Việt Nam khuyến cáo, mỗi năm Việt Nam có hơn 350.000 trường hợp tử vong do các BKLN, trong đó cao nhất là bệnh tim mạch (70.000 trường hợp), ung thư (66.000 trường hợp), đái tháo đường (13.000 trường hợp)... Ngoài ra, các BKLN còn gây tàn phế nặng nề và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh nếu không được phát hiện sớm, điều trị và theo dõi lâu dài. Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim và các bệnh tim mạch khác làm cho hàng trăm ngàn người bị liệt (do đột quỵ), tàn phế và mất sức lao động mỗi năm. Đái tháo đường là nguyên nhân gây tàn phế hàng đầu ở cả nam và nữ giới, gây các biến chứng về tim mạch, tổn thương thần kinh, suy thận, nhiễm trùng và tổn thương bàn chân có thể dẫn đến phải cắt cụt chi… Tại Quảng Ngãi, năm 2014 tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh đã tiếp nhận khám, chữa bệnh cho 4.470 trường hợp ung thư, 5.580 trường hợp đái tháo đường, 1.663 trường hợp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, 9.850 trường hợp tăng huyết áp và 2.791 trường hợp các bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ và nhồi máu cơ tim. Chỉ tính riêng tại Trung tâm Nội tiết tỉnh, năm 2014 đã tiếp nhận, khám, tư vấn và quản lý điều trị cho 14.636 trường hợp đái tháo đường và 3.140 trường hợp tăng huyết áp. Tuy nhiên, những số liệu trên chỉ là bề nổi của tảng băng chìm vì vẫn chưa phản ánh hết các trường hợp mắc BKLN trong cộng đồng. Tại Quảng Ngãi, vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu, điều tra dịch tễ tại cộng đồng về BKLN. Năm 2011, điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường tuýp 2 và tăng huyết áp tại cộng đồng, cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường là 5,5%, trong đó đảo Lý Sơn 2,9%, miền núi 3,3%, và đồng bằng 6,9%, ước tính khoảng 24.600 người trong độ tuổi 30-69 mắc đái tháo đường, đáng lo ngại là trong số đó có đến 65,2% (ước khoảng 16.000 người) người mắc đái tháo đường chưa được chẩn đoán và điều trị; tỷ lệ mắc tăng huyết áp 24,1%, ước khoảng 118.700 người trong độ tuổi 30-69 mắc tăng huyết áp. Các yếu tố nguy cơ gây BKLN ngày càng có xu hướng gia tăng, nhất là ở các nước đang phát triển. Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh, chủ yếu là BKLN (ung thư, tim mạch, tai biến mạch máu não, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính). Việt Nam là nước có tỷ lệ hút thuốc lá cao thứ 19 trên thế giới. Kết quả điều tra năm 2010 cho thấy có 47,4% nam giới và 1,4% nữ giới có hút thuốc, tuy nhiên phụ nữ, trẻ em vẫn bị tác động bởi hít khói thuốc lá thụ động. Hút thuốc lá gây ra khoảng 16,9% tổng số trường hợp tử vong. Lạm dụng rượu, bia cũng liên quan đến nhiều BKLN (ung thư, tim mạch, tai biến mạch máu não, đái tháo đường, xơ gan, rối loạn tâm thần, tai nạn, chấn thương...). Tại Hội nghị triển khai chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn (tháng 5/2014) cho biết mỗi năm người Việt Nam tiêu thụ 3 tỷ lít bia và gần 68 triệu lít rượu và có 4,4% người dân Việt Nam đang gánh chịu bệnh tật do hậu quả của rượu, bia. Đối với dinh dưỡng, Việt Nam có tới 80% người trưởng thành ăn ít rau và trái cây, một số nghiên cứu cho thấy mức tiêu thụ muối/người/ngày vào khoảng 10-15 gam, tức là cao gấp 2-3 lần so với khuyến cáo của WHO (5g/ngày), là một trong những yếu tố nguy cơ làm tăng huyết áp. Cùng với vấn đề dinh dưỡng không hợp lý, thiếu vận động cũng đang là vấn đề lớn, là yếu tố nguy cơ gây ra chứng béo phì, bệnh tim mạch, đái tháo đường. Tại Việt Nam, tỷ lệ người dân luyện tập thể dục thể thao thường xuyên vẫn còn thấp, chỉ đạt 27% vào năm 2013; tỷ lệ gia đình tập thể dục thể thao cũng chỉ đạt 18,6%. Tình trạng thừa cân béo phì ở người trưởng thành ngày càng tăng, dự báo đến năm 2025 tỷ lệ người trưởng thành thừa cân béo phì sẽ tăng lên 21%. Tình trạng tăng đường máu và rối loạn mỡ máu cũng là những yếu tố nguy cơ chưa được kiểm soát hiệu quả. Hiện có gần 1/3 số người trưởng thành bị tăng cholesterol máu, trong khi đó tỷ lệ người 30-69 tuổi bị tiền đái tháo đường chiếm 12,8%, trung bình mỗi năm tăng 0,5%. Nếu chỉ dựa vào các giải pháp điều trị để ứng phó với các BKLN thì hết sức tốn kém và hiệu quả rất thấp, trong khi đó hầu hết các BKLN có thể ngăn ngừa được bằng các can thiệp nhằm vào các yếu tố nguy cơ chung như sử dụng thuốc lá, ăn uống không hợp lý, thiếu hoạt động thể lực và lạm dụng rượu, bia. Theo WHO, 80% các bệnh lý tim mạch, đột quỵ và đái tháo đường tuýp 2 cũng như 40% các bệnh ung thư có thể phòng tránh được thông qua các can thiệp dự phòng, kiểm soát các yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, do phần lớn các BKLN có cùng chung các yếu tố nguy cơ về hành vi và lối sống, việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ để phòng tránh BKLN đòi hỏi sự phối hợp đa ngành, và chăm sóc điều trị các BKLN mạn tính đòi hỏi sự lồng ghép và phối hợp chặt chẽ, liên tục giữa các tuyến, giữa các nhà cung ứng dịch vụ, giữa cán bộ y tế và người bệnh. Tại Việt Nam, hoạt động dự phòng, quản lý BKLN tại tuyến y tế huyện, xã được triển khai chủ yếu thông qua các dự án thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia về y tế gồm dự án phòng chống tăng huyết áp, đái tháo đường, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản và dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần tại cộng đồng và trẻ em. Ngày 20/3/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 376/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược Quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm khác giai đoạn 2015-2025” với mục tiêu “khống chế tốc độ gia tăng tiến tới làm giảm tỷ lệ người mắc bệnh tại cộng đồng, hạn chế tàn tật và tử vong sớm do mắc các bệnh không lây nhiễm, trong đó ưu tiên phòng, chống các bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản, góp phần bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe của nhân dân và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước”. Chiến lược đề ra 6 giải pháp lớn, trong đó có giải pháp tăng cường phát hiện, điều trị, quản lý tại trạm y tế xã và cộng đồng cho người mắc BKLN bảo đảm cung cấp dịch vụ quản lý, theo dõi và chăm sóc liên tục cho người bệnh. Người mắc BKLN và người có nguy cơ mắc BKLN cần sự chăm sóc lâu dài, bền vững, dựa vào cộng đồng. Hoạt động phòng, chống BKLN có hiệu quả khi lấy bệnh nhân là trung tâm, chủ động và được thực hiện một cách công bằng thông qua hệ thống y tế cơ sở trên nền tảng chăm sóc sức khỏe ban đầu. Mạng lưới y tế cơ sở có vai trò rất quan trọng trong dự phòng và kiểm soát BKLN. Chủ động phòng, chống BKLN hiệu quả ngay tại y tế cơ sở sẽ hạn chế số người mắc BKLN trong cộng đồng, ngăn chặn tàn tật, tử vong sớm và giảm quá tải bệnh viện các tuyến trên. Tăng cường tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho người dân hiểu biết và tự thay đổi hành vi nguy cơ, kiểm soát được các nguy cơ gây bệnh như hút thuốc lá, lạm dụng đồ uống có cồn, dinh dưỡng không hợp lý, sử dụng thực phẩm không an toàn, ít vận động thể lực là yếu tố quyết định hiệu quả trong phòng, chống các BKLN. Trong Chương trình hành động toàn cầu về phòng chống và kiểm soát các BKLN 2013-2020, WHO khuyến cáo 4 lựa chọn chính sách để tăng cường hiệu quả quản trị hệ thống y tế đáp ứng phòng chống BKLN bao gồm: (i) Có trách nhiệm bảo đảm sự sẵn có các dịch vụ phòng chống BKLN trong hệ thống y tế; (ii) Có sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng, thực hiện, giám sát và đánh giá các chương trình phòng, chống BKLN liên tục, suốt vòng đời để tăng cường tính hiệu quả, công bằng; (iii) Lồng ghép dịch vụ phòng, chống BKLN vào các chương trình, kế hoạch cải cách để tăng cường hiệu quả của hệ thống y tế và (iv) Định hướng hệ thống y tế nhằm ứng phó với tác động của yếu tố xã hội ảnh hưởng tới sức khỏe thông qua các can thiệp dựa trên bằng chứng, hỗ trợ bằng chính sách bao phủ CSSK toàn dân./. BS.Lê Huy - BS.Lê Quang Tòa - Hội Y học tỉnh Quảng Ngãi (Theo Bản tin Khoa học và Đời sống số 03/2015)
| |
|
Bản quyền ©2012 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi | |