| Nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc của vị thành niên tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi. | |
| Ngày đưa: 26/01/2016 10:26:38 AM |
|
![]() Để tìm hiểu thực trạng và làm cơ sở cho những đề xuất giải pháp nhằm nâng cao tầm vóc, thể lực của vị thành niên tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi sắp đến, đề tài “Nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc của Vị thành niên tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi”, được thực hiện với mục tiêu: Đánh giá thực trạng một số chỉ số nhân trắc của vị thành niên tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong quá trình hội nhập và phát triển, yếu tố con người luôn có vai trò to lớn trong sự phát triển bền vững, vì vậy, luôn dành được sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia; nâng cao sức khỏe, tầm vóc - thể lực con người, góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực tốt nhất cho sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Để tìm hiểu thực trạng và làm cơ sở cho những đề xuất giải pháp nhằm nâng cao tầm vóc, thể lực của vị thành niên tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi sắp đến, đề tài “Nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc của Vị thành niên tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi”, được thực hiện với mục tiêu: Đánh giá thực trạng một số chỉ số nhân trắc của vị thành niên tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi.
Trẻ em các huyện miền núi đến lớp 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 3.000 vị thành niên (VTN) tại 6 huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi từ tháng 8/2012 đến tháng 8/2014. Công cụ thu thập thông tin gồm phiếu phỏng vấn, phiếu khám được sử dụng cho đánh giá các chỉ số nhân trắc như tầm vóc - thể lực (chiều cao, cân nặng, vòng ngực, lực bóp tay...), khám lâm sàng... Phương tiện gồm thước gỗ đo chiều cao đứng theo mẫu của Viện Dinh dưỡng: loại 3 mảnh, lắp ghép, áp sát tường, độ chính xác đến 1mm, cân bàn điện tử, chính xác đến 0,05kg, thước dây có chia vạch đến mm và lực kế bóp tay điện tử, đơn vị tính là kg Phiếu thu thập thông tin định lượng được làm sạch và nhập bằng phần mềm Epidata 3.1; quản lý, phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0. 3. KẾT QUẢ VÀ NHẬN XÉT: Từ nghiên cứu 3.000 vị thành niên tại 6 huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi cho trong đó: có 1.467 nam (48,9%) và 1.533 nữ (51,1%) cho kết quả như sau: 3.1. Về chiều cao Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiều cao trung bình của VTN lúc 10 tuổi là 128,2cm; 15 tuổi là 149,0cm và đến 19 tuổi là 156,0cm. Chiều cao trung bình ở các lứa tuổi của vị thành niên tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Dương Nghiệp Chí (2002) cũng như nghiên cứu của một số tác giả khác. Qua đó cho thấy rằng điều kiện để phát triển chiều cao như kinh tế, dinh dưỡng và cả điều kiện xã hội như hoạt động thể dục thể thao… của các huyện miền núi tỉnh ta còn quá yếu so với mặt bằng chung cả nước, điều này là yếu tố chính dẫn đến sự kém phát triển về tầm vóc, đặc biệt là chiều cao của trẻ VTN miền núi Quảng Ngãi. So sánh với Giá trị sinh học người Việt Nam (1995) thì chiều cao trung bình ở trẻ em 10 tuổi; 15 tuổi và 19 tuổi đối với nam là 126,0 cm; 155,52cm và 163,4cm, đối với nữ là 126,1cm; 151,01cm và 153,0cm thì nghiên cứu tại Quảng Ngãi đối với trẻ em 10 tuổi có kết quả cao hơn, nhưng đến khi trẻ đạt 15 tuổi; 19 tuổi thì thấp hơn. Chứng tỏ ở trẻ chưa bước vào giai đoạn tăng trưởng chiều cao nhanh thì chiều cao của trẻ em miền núi tỉnh Quảng Ngãi có sự chênh lệch không đáng kể và thậm chí ngang với chiều cao của trẻ ở các địa phương khác. Nhưng vào giai đoạn chiều cao phát triển nhanh thì trẻ VNT ở Quảng Ngãi có sự phát triển kém hơn. 3.2. Về cân nặng Qua kết quả quan trắc cho thấy cân nặng trẻ em 10 tuổi cân nặng trung bình 24,8 kg, trẻ em 15 tuổi là 42,0kg; trẻ em 19 tuổi cân nặng trung bình 48,6 kg. Chênh lệch cân nặng từ 10 – 19 tuổi là 23,8 kg, tăng trung bình 2,9 kg/năm. Giai đoạn tăng tốc về cân nặng diễn ra từ 11 – 15 tuổi. Kết quả này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Dương Nghiệp Chí (2002) và một số tác giả khác; cao hơn nghiên cứu của Hoàng Quý Tỉnh và Đào Huy Khuê (2011). So sánh với Giá trị sinh học người Việt Nam (1995), cân nặng trung bình ở trẻ em 10 tuổi,15 tuổi và 19 tuổi đối với nam là 23,2 kg; 40,92kg và 50,7 kg, đối với nữ là 22,6kg; 40,19kg và 44,9kg thì nghiên cứu tại Quảng Ngãi (nam 24,46kg; 42,37kg và 52,51kg, nữ 25,18kg; 41,67kg và 45,47kg). Như vậy tại Quảng Ngãi có kết quả cao hơn ở cả ba lứa tuổi. 3.3. Về vòng ngực trung bình Vòng ngực trung bình của VTN tăng trung bình mỗi năm được 2,4 cm, tốc độ tăng của nam cao hơn nữ (2,5 cm và 2,3 cm). Cũng như sự tăng trưởng về chiều cao và cân nặng, sự phát triển của vòng ngực trung bình cũng tuân theo quy luật phát triển chung của VTN, nam phát triển muộn nhưng nhanh hơn nữ. So với giá trị trung bình của vòng ngực trong nghiên cứu của Bộ Y tế năm 2003 thì giá trị trung bình của các lứa tuổi trong nghiên cứu này cao hơn (10 tuổi: nam 61,8cm, nữ 61,0cm; 19 tuổi: nam 81,1 cm, nữ 72,5 cm so với vòng ngực trung bình trong nghiên cứu của Bộ Y tế tương ứng là (10 tuổi: nam 57,8 cm, nữ 56,6 cm; 19 tuổi: nam 77,4 cm, nữ 76,0 cm). So với nghiên cứu của Nguyễn Thị Huế và cộng sự năm 2003 khi nghiên cứu về thể lực của học sinh lớp 10 (15 tuổi) tại Nam Định của các đối tượng là trẻ em nông thôn thì tại Quảng Ngãi ở trẻ có độ tuổi tương đương (15 tuổi) có vòng ngực trung bình thấp hơn (nam: 73,4cm so với 77,99cm; nữ: 75,8cm so với 76cm).. Sự phát triển vòng ngực của các em liên quan đến tuổi dậy thì nên sự phát triển vòng ngực của VTN miền núi Quảng Ngãi thấp có thể do kiến thức chăm sóc của các bà mẹ còn yếu, điều kiện nuôi dưỡng còn khó khăn. 3.4. Về lực bóp tay thuận Kết quả nghiên cứu của đề tài lực bóp tay thuận của trẻ em từ 10 – 19 tuổi đạt tiêu chuẩn chiếm tỉ lệ 14,9%, không đạt 85,1%. Theo nghiên cứu của Dương Nghiệp Chí (2002), lực bóp tay thuận trung bình trẻ em trai lúc 10 tuổi và 19 tuổi là 17,47 kg và 44,44 kg, trẻ em gái tương tự là 16,25 kg và 29,15 kg. Trong khi đó nghiên cứu của chúng tôi, ở trẻ em trai là 12,08 kg và 35,40 kg, trẻ em gái là 11,29 kg và 24 kg, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Dương Nghiệp Chí. Lực bóp tay tỷ lệ thuận với các chỉ tiêu của tuổi sinh học, cũng như có thể báo trước tình trạng sức khỏe, tử vong sớm. Các nhà nhân khẩu học nhấn mạnh rằng, chỉ số lực bóp tay thích hợp để đánh giá so sánh tuổi sinh học, sức khỏe của các nhóm dân cư khác nhau. Qua đó chứng tỏ trẻ VTN miền núi Quảng Ngãi có sức khỏe yếu và dễ mắc các bệnh tật. 4. KẾT LUẬN Chiều cao trung bình lúc 10 tuổi của nam là: 128,0±7,2cm, nữ: 128,3±8,1cm; 19 tuổi của nam là: 161,5±6,2 cm, nữ: 151,5±6,2cm. Cân nặng trung bình lúc 10 tuổi của nam: 24,5±3,9kg, nữ: 25,2±5,2kg; 19 của nam là: 52,5±5,7kg, nữ: 45,5 ±4,6 kg. Vòng ngực trung bình lúc 10 tuổi của nam là: 61,8±3,2cm, nữ: 61,0±4,6cm; 19 tuổi của nam là: 81,1±4,3cm, nữ: 80,0±4,8cm. Lực bóp tay thuận lúc 10 tuổi của nam là: 12,1±3,3kg, nữ: 11,4±3,4kg; 19 tuổi của nam là: 35,3 ± 6,3kg, nữ: 24,0 ± 5,2kg. Tóm lại các chỉ số nhân trắc của của Vị thành niên các huyện miền núi Quảng Ngãi thấp hơn kích thước tham khảo của Dương Nghiệp Chí 2002 và giá trị sinh học người Việt Nam 1995 và càng trưởng thành thì khoảng cách chênh lệch càng rõ nét. Điều đó cho thấy rằng thể lực, tầm vóc của vị thành niên 6 huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi là có vấn đề, cần sớm có giải pháp tổng hợp để khắc phục, để trong tương lai gần các thế hệ thanh niên lớn lên từ các huyện miền núi của tỉnh sẽ là nguồn nhân lực có đủ thể lực, trí lực phục vụ cho gia đình và xã hội. BS. Nguyễn Tấn Đức - BS Lê Huy Sở Y tế Quảng Ngãi Theo Bản tin KH&ĐS số 4/2015 | |
|
Bản quyền ©2012 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi | |