| Ý nghĩa và sự liên kết các tên gọi các huyện đồng bằng tỉnh Quảng Ngãi | |
| Ngày đưa: 19/01/2016 03:02:23 PM |
|
|
Trải qua tiến trình lịch sử hình thành, các huyện đồng bằng của tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng cuối cùng giữ lại các tên (theo thứ tự từ Bắc vào Nam) là: Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức và Đức Phổ. Thoạt nhìn ta đã thấy nó hình thành các cặp: Bình Sơn- Sơn Tịnh, Tư Nghĩa- Nghĩa Hành, Mộ Đức- Đức Phổ và ta có thể thấy ngay việc đặt các tên này là có chủ đích, đặc biệt là ý nghĩa và sự kết nối logic hiếm có.
Ý nghĩa của các tên gọi 6 huyện đồng bằng hiện nay: - Bình Sơn: san phẳng núi non (mang hàm ý cha ông ta vào khai phá vùng đất mới và mở mang bờ cõi, dẹp yên mọi chướng ngại và chống đối của kẻ thù); - Sơn Tịnh: núi non đã yên ổn (mang hàm ý vùng đất mới đã yên ổn, mọi chướng ngại đã được dẹp yên, có thể an cư và lạc nghiệp); - Tư Nghĩa: suy nghĩ đến việc nghĩa; - Nghĩa Hành: tiến hành làm việc nghĩa, làm những việc đúng với đạo lý; - Mộ Đức: yêu mến đức tính tốt; - Đức Phổ: phổ biến cái đức, đức rộng lớn, khắp mọi nơi. Qua đó cho thấy tên gọi 6 huyện đồng bằng tỉnh ta hình thành các cặp Bình Sơn – Sơn Tịnh, Tư Nghĩa – Nghĩa Hành, Mộ Đức – Đức Phổ. Như vậy không chỉ có sự gắn kết bổ sung về nghĩa mà còn có liên kết về từ và vần. Quá trình hình thành tên gọi 6 huyện đồng bằng: Thông thường việc đặt tên tỉnh, huyện, xã có thể theo đặc điểm tự nhiên, nghề nghiệp, sinh hoạt, hoặc theo ý chí, ước nguyện hay với một nghĩa bóng nào đó. Ví dụ: Thăng Long: rồng bay lên; Hà Nội: phía trong các con sông (sông Hồng và sông Đáy); Thái Bình: bình yên, không có chiến tranh; Phú Yên: giàu có và yên ổn... Đối với tỉnh Quảng Ngãi: Từ thời nhà Lê đã đặt tên vùng đất tỉnh Quảng Ngãi hiện nay là phủ Tư Nghĩa gồm có 3 huyện là: Bình Sơn (平 山), Nghĩa Giang (義 江) và Mộ Hoa (慕 花) đều có ý nghĩa hay và có sự liên kết với nhau. + Bình Sơn 平 山 (như đã giải thích ở trên). + Nghĩa Giang 義 江: nghĩa khí như sông lớn. (Sau này Nghĩa Giang được đổi thành Chương Nghĩa (彰 義): nghĩa khí rực rỡ, sáng ngời.). + Mộ Hoa 慕 花: yêu mến cái đẹp. (Sau đó vì kỵ húy đã đổi Mộ Hoa thành Mộ Đức 慕 德: Yêu mến cái đức, việc tốt). Tiếp theo trong quá trình hình thành phát triển tỉnh Quảng Ngãi, 3 huyện ban đầu đã tách ra thành 6 huyện như hiện nay song vì sao các huyện lại có tên gọi gắn kết hình thành các cặp: Bình Sơn- Sơn Tịnh, Tư Nghĩa- Nghĩa Hành, Mộ Đức- Đức Phổ? + Huyện Sơn Tịnh được tách ra từ huyện Bình Sơn. Nhưng tại sao không lấy một cái tên khác, ví dụ Sơn Tân, Sơn Giang, Sơn Thủy... mà là Sơn Tịnh. Là vì chỉ có Sơn Tịnh (núi non đã yên ổn) kết hợp với Bình Sơn (san phẳng núi non) mới có đầy đủ ý nghĩa khi tách ra từ huyện Bình Sơn. + Huyện Đức Phổ được tách ra từ huyện Mộ Đức. Một câu hỏi đặt ra tương tự và được lý giải là vì chỉ có Đức Phổ (đức rộng lớn, khắp mọi nơi, hay phổ biến cái đức) mới có thể bổ sung đầy đủ cho Mộ Đức (yêu mến cái đức). + Huyện Chương Nghĩa được tách ra thành phủ Tư Nghĩa và châu Nghĩa Hành, sau này thành 2 huyện Tư Nghĩa và Nghĩa Hành. Ở đây ta thấy cũng là tách huyện (lúc tách gọi là châu, sau đổi thành huyện) cùng một thời điểm nhưng Bình Sơn và Mộ Đức vẫn giữ nguyên tên của huyện cũ và chỉ thêm 2 huyện mới tách là Sơn Tịnh và Đức Phổ, còn Chương Nghĩa tại sao lại đổi thành Tư Nghĩa, trong khi cái tên Chương Nghĩa rất hay và có nhiều ý nghĩa như vậy? Tới đây ta tiếp tục thấy được chủ đích rất rõ ràng, sự uyên bác và thâm thúy của người đặt tên huyện mới lúc bấy giờ. Nếu vẫn giữ tên Chương Nghĩa và thêm huyện mới là Nghĩa Hành (hoặc một cái tên có ý nghĩa mà bắt đầu bằng từ Nghĩa) thì vẫn thành cặp Chương Nghĩa- Nghĩa Hành, giống như các cặp Bình Sơn- Sơn Tịnh và Mộ Đức- Đức Phổ, cớ sao mà phải đổi tên huyện cũ? Phải chăng, vì rằng chỉ một mình cái tên Chương Nghĩa (nghĩa khí rực rỡ, sáng ngời) cũng đã bao hàm đầy đủ ý nghĩa mà không cần sự bổ sung hay kết hợp của cụm từ Nghĩa Hành (tiến hành làm việc nghĩa) hay một cái tên nào khác có ý nghĩa kết hợp và bổ sung cho nó. Việc thay Chương Nghĩa thành Tư Nghĩa (suy nghĩ đến việc nghĩa) mới có sự kết hợp hoàn hảo với Nghĩa Hành (tiến hành làm việc nghĩa) và đảm bảo tính logic với các cặp Bình Sơn- Sơn Tịnh và Mộ Đức- Đức Phổ. Như vậy, có thể khẳng định việc đặt tên các huyện đồng bằng của tỉnh Quảng Ngãi là có chủ đích, đặc biệt là ý nghĩa của tên các huyện thể hiện ý chí dời non lấp biển, đề cao nghĩa khí, đức độ của ông cha ta lúc bấy giờ, đồng thời tạo sự gắn kết logic về nghĩa và từ thật độc đáo và lý thú vậy./. Giải thích một số từ (theo từ điển Hán - Việt): Tư 思: nghĩ, suy nghĩ, nghĩ đến, lo liệu. Nghĩa 義: Sự tình đúng với lẽ phải, thích hợp với đạo lí; nghĩa khí. Bình 平: san, san bằng, san phẳng, dẹp yên, trị. Sơn 山: núi, non. Tịnh 靖: yên ổn, yên tĩnh. Giang 江: sông lớn. Chương 彰: rực rỡ, rõ rệt. Hành 行 : đi, làm, thi hành, chấp hành, tiến hành. Mộ 慕: yêu mến, hâm mộ, ngưỡng mộ, mến mộ. Hoa 花: xinh, đẹp. Đức 德: đạo đức, thiện. Phổ 迺: Rộng lớn, khắp, phổ biến.
KS. Huỳnh Văn Tố - PCT Liên hiệp Hội tỉnh Quảng Ngãi Theo Bản tin Khoa học và Đời sống số 04/2015
| |
|
Bản quyền ©2012 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi | |