Tvấn ph.biện&GĐXH
(Đăng lúc: 15/10/2015 08:24:52 AM)
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội một số nội dung chủ yếu về Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX
Ngày 22/7/2015 vừa qua, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức Hội thảo khoa học tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX với mục đích là phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trên địa bàn, nhất là các chuyên gia, các cán bộ khoa học và kỹ thuật, cán bộ quản lý trong hệ thống các tổ chức của Liên hiệp Hội tỉnh nhằm góp ý, tư vấn, phản biện và giám định xã hội làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn một số vấn đề quan trọng trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIX. Sau đây, xin giới thiệu một vài nội dung chủ yếu do các đại biểu tham gia hội thảo đã thảo luận, thống nhất và kiến nghị cần xem xét, chỉnh sửa.

 

Hội thảo Tư vấn, phản biện và giám định xã hội Dự thảo Báo cáo chính trị

trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX

1. V ch đ Đi hi XIX:

Thống nhất bỏ cụm từ “và hệ thng chính tr bởi vì, việc “xây dựng Đng b trong sch, vng mnh” là nhiệm vụ đã có tiêu chí đánh giá, quy định rõ ràng; hàng năm cấp ủy đảng các cấp đều có kiểm điểm, đánh giá, bình xét, khen thưởng… Tiêu chí “trong sạch, vững mạnh” ngoài ý nghĩa thông thường nói đến tổ chức và đảng viên “trong sạch” về phẩm chất, đạo đức lối sống, không tham nhũng, tiêu cực…, còn có ý nghĩa về quan điểm, lập trường tư tưởng, kiên định với đường lối, không “đổi màu” chính trị; trung thành tuyệt đối với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong khi đó khi đề cập đến “hệ thng chính tr, lại có ý nghĩa về tập hợp các lực lượng, trong đó bao gồm đoàn kết các dân tộc, giai cấp, tôn giáo, các thành phần kinh tế… và trên thực tế chưa có tiêu chí để xác định “trong sạch” là như thế nào? Bên cạnh cũng thống nhất bỏ cụm từ “nâng cao đời sng vt cht và tinh thn ca nhân dân” vì sẽ thể hiện trong mục tiêu tổng quát.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia tham dhội thảo đề nghị mạnh dạn bỏ từ “toàn diện” thay bằng cụm từ “nhanh, bền vng” trong câu “phát triển toàn din và đng b kinh tế-xã hi”, bởi vì dựa vào các căn cứ lý luận và thực tiễn như sau:

Mt là: Chủ đề Đại hội là kết tinh, cô đọng những vấn đề cốt lõi nhất và nhất thiết phải thống nhất về chủ trương, quan điểm với mục tiêu tổng quát, trong khi đó mục tiêu tổng quát lại viết: “phát triển kinh tế nhanh, bn vng, đng b vi phát trin văn hóa- xã hi”. Như vậy, tiêu đề Đại hội như trên đã “vênh” không đồng nhất về chủ trương, quan điểm với mục tiêu tổng quát?.

Hai là: Ni dung v “Phương hướng, nhim v; Đnh hướng đi mi mô hình tăng trưởng, cơ cu li nn kinh tế trong d tho Báo cáo chính tr ti Đi hi đi biu toàn quc ln th XII ca Đng có nêu rõ: “Mô hình tăng trưởng trong thi gian ti kết hp hiu qu phát trin chiu rng vi chiu sâu, chú trng phát trin theo chiu sâu, nâng cao cht lượng tăng trưởng và sc cnh tranh trên cơ s nâng cao năng sut lao đng…”,phát trin nhanh và bn vng; gii quyết hài hòa gia mc tiêu trước mt và lâu dài, gia tăng trưởng kinh tế và phát trin văn hóa, thc hin tiến b và công bng xã hi, thân thin vi môi trường, nâng cao đi sng vt cht và tinh thn ca nhân dân”. Điu đó có th thy ch trương, đnh hướng phát trin nn kinh tế nước ta trong giai đon 2016-2020 s là: chuyn hướng t phát trin theo chiu rng trước đây, dn dn sang phát trin theo chiu sâu, nên vic đ ngh b t “toàn din” thay bng t “nhanh, bn vng” là hoàn toàn hp lý và đúng đn, phù hp vi ch trương ca Đng ta và mc tiêu tng quát ca nhim kỳ XIX Đng b tnh đã đ ra. Mt khác, ch đ Đi hi đi biu toàn quc ln th XII ca Đng d tho viết: “ Đy mnh toàn din, đng b công cuc đi mi” có ni dung, ý nghĩa hoàn toàn khác vi câu: “phát trin toàn din và đng b kinh tế-xã hi” ti d tho Báo cáo chính tr ca Tnh y.

Ngoài ra, có nhiều ý kiến cho rằng: đề nghị thay dấu (,) sau cụm từ “giữ vng quc phòng, an ninh”. Đây là việc thay đổi quan trọng bởi vì chủ đề là một câu ghép, bao gồm nhiều mệnh đề được phân cách bằng các dấu chấm phảy (;) mà ở đây “giữ vng quc phòng, an ninh” là nhiệm vụ chiến lược quan trọng nên cần phân cách với nhiệm vụ “xây dựng nn tng đ sm đưa tnh ta cơ bn tr thành tnh công nghip theo hướng hin đi”.

Như vậy chủ đ Đi hi XIX sẽ được viết lại như sau: “Tiếp tc xây dng Đng b tht s trong sch, vng mnh; phát huy sc mnh toàn dân; phát trin nhanh, bn vng và đng b kinh tế- xã hi; gi vng quc phòng, an ninh; xây dng nn tng đ sm đưa tnh ta cơ bn tr thành tnh công nghip theo hướng hin đi”.

2. V mc tiêu tng quát:

2.1. Thống nhất cao như Dự thảo và bỏ cụm từ “và hệ thng chính tr như đã phân tích ở trên và các chuyên gia các lĩnh vực chuyên ngành đã đề cập làm rõ s lý lun và thc tin đối với một số nội dung được nêu trong mục tiêu tng quát như sau:

a) V phát trin kinh tế nhanh, bn vng, đng b vi phát trin văn hóa- xã hi chính là xuất phát từ quan điểm của Đảng ta về: “Phát triển bn vng, tăng trưởng nhanh v kinh tế phi đi đôi vi thc hin tiến b và công bng xã hi, tiết kim tài nguyên thiên nhiên, bo v môi trường t nhiên, bo tn đa dng sinh hc, ch đng ng phó vi biến đi khí hu và phòng chng thiên tai. Phát trin bn vng là cơ s đ cho tăng trưởng nhanh kinh tế, tăng trưởng kinh tế nhanh s to ngun lc cho phát trin bn vng, thc hin tiến b và công bng xã hi; đây là các mi quan h bin chng trong thi kỳ đy mnh công nghip hóa, hin đi hóa đt nước và hi nhp kinh tế quc tế.”.

b) V vn đ th hin trong cách dùng “t” trong mc tiêu tng quát ca nhim kỳ XVIII đã viết: “đến năm 2020”  (Ngh quyết Đi hi XVIII) đã được thay bằng từ “sớm” (theo D tho Báo cáo chính tr Đi hi XIX) “đ đưa tnh ta cơ bn tr thành tnh công nghip theo hướng hin đi”, đã làm xuất hiện các câu hỏi như: Tại sao thay đổi về thời gian (đích) của mục tiêu?, “đến năm 2020” đạt hay không đạt?, “sớm” là đến bao giờ, năm nào?.... Ở đây, được các chuyên gia tư vấn lập luận như sau:

- Trên bình din c nước nói chung và tnh Qung Ngãi nói riêng, nếu so sánh mt cách sơ b vi các b tiêu chí áp dng cho mt nước hoàn thành công nghip hóa mà các nhà khoa hc, hc gi kinh tế thế gii và Vit Nam đã đ xut thì c Vit Nam và tnh Qung Ngãi đến năm 2020 (theo s liu d báo hocquy hoch, kế hoch) đu có nhiu tiêu chí rt khó đt và không đt. Đy là mt thc tế, do đó trong D tho Báo cáo chính tr ti Đi hi đi biu toàn quc ln th XII ca Đng ti đim 2-, Mc III-, trang 22, có đt ra nhim v trong nhim kỳ XII ca Đng là: “Xác đnh h tiêu chí nước công nghip theo hướng hin đi; điu đó đng nghĩa vi vic trong nhim kỳ XII, Đng ta s phi xây dng và hoàn thành h tiêu chí nước công nghip Vit Nam và đây là cơ s đ đt ra mc tiêu v thi gian là lúc nào? (năm nào?) Vit Nam s cơ bn thành nước công nghip theo hướng hin đi.

- Tnh Qung Ngãi cũng s không ngoi l và cũng phi xây dng được h tiêu chí tnh công nghip Qung Ngãi. Song có điu là tnh ta t xác đnh h tiêu chí tnh công nghip riêng cho tnh Qung Ngãi hay áp dng h tiêu chí chung c nước v tnh công nghip theo hướng hin đi? và có đưa ni dung này vào D tho Báo cáo chính tr hay không? là vn đ cũng cn Tnh y Qung Ngãi nghiên cu, cân nhc. Tuy nhiên, đa s các chuyên gia thng nht rt cao dùng khi t “sm” chính xác, vì tnh ta nhim kỳ ti cn phi nhanh chóng và quyết lit đ sm tr thành tnh công nghip, chng nguy cơ tt hu, nếu càng đi sau, càng tt hu thì càng phi tr giá đt cho tiến trình công nghip hóa ca tnh nhà trong các giai đon tiếp theo.

2.2. Đề nghị thay dấu (,) sau cụm từ “giữ vng quc phòng, an ninh” bằng dấu (;)  như đã lập luận làm rõ tại Mục 2. V ch đ Đi hi XIX ở trên.

3. V các ch tiêu ch yếu:  

3.1. Về ch tiêu 2.9. t l lao đng qua đào to đt khong 55% thì tuyệt đại đa số chuyên gia cho rằng là tương đi thp, bởi vì ở đây phải chăng có sự lẫn ln giữa tỷ l lao đng qua đào to ngh vi t l lao đng qua đào to. Có thể làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề này như sau:

+ Ở phần đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XVIII có viết “lao động qua đào to ngh năm 2015 đã đt 45%” (trang 12, Dự tho báo cáo chính tr) và nếu cộng với số lao động qua đào tạo khác như trung cấp, cao đẳng, đại học…cộng dồn từ trước đến năm 2015 thì tỉnh ta ít nhất cũng đã đạt được 55% tỷ lệ lao động qua đào tạo rồi [theo các số liệu báo cáo của Sở LĐTB&XH tỉnh về tỷ lệ lao động qua đào tạo và (tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề) của tỉnh Quảng Ngãi qua các năm gần đây tương ứng: Năm 2010 là: 33,02%  và (27,8%), 2011 là: 39,5% và (30,5%), 2012 là: 43,5% và (34%), 2013 là: 47,6% và (37%), 2014 là 51% và (41%); năm 2015 là: 55% và (45%)]. Như vậy, mức chênh lệch giữa tỷ l lao đng qua đào to và t l lao đng qua đào to ngh thường khoảng 10% nên đa số các chuyên gia kiến nghị nên điều chỉnh chỉ tiêu này là: Đến năm 2020 t l lao đng qua đào to là 65% là phù hợp và khả thi.

+ Mặt khác, nếu tham khảo chỉ tiêu này ca c nước đt ra đến năm 2020 thì t l lao đng qua đào to đt khong 65-70%, trong đó có bng cp, chng ch đt 25-26% (nêu ở trang 17, Mc II, đim 2. Mc tiêu và nhim v tng quát phát trin đt nước trong 5 năm ti trong D tho Báo cáo chính tr ti Đi hi Đi biu toàn quc ln th XII ca Đng). Ngoài ra, có ý kiến đề nghị cũng cần xem lại con số chỉ tiêu: trong đó có bằng cp, chng ch đt 80-85% là trên cơ sở nào?, cả nước ch đt 25-26% mà thôi.

3.2. Về ch tiêu 2.11. t l tăng dân s t nhiên 0,92% có một số chuyên gia cho rằng đây là chỉ tiêu tương đi thp vì trong thời gian qua theo số liệu của Cục thống kê tỉnh là: Năm 2011 thực hiện 0,867%, 2012 thực hiện 0.863%, 2013 thực hiện 0,854%, 2014 thực hiện 0,849% và đối với năm 2015 tại Dự tho Báo cáo chính tr, trang 14, đim 2.5 đã viết: “Năm 2015, tỷ l tăng dân s t nhiên là 0,82%, vượt ch tiêu Ngh quyết XVIII đ ra là 0,92% vào năm 2015”. Đại hội lần thứ XIX vẫn lặp lại y như cũ đối với chỉ tiêu này, chẳng lẽ thấp hơn so với nhiệm kỳ trước hay sao?.Tuy nhiên, các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên ngành y tế đã đưa ra luận cứ về cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đặt ra chỉ tiêu: “Tỷ l tăng dân s t nhiên ca tnh Qung Ngãi vào năm 2020 là 0,92%” như sau:

  V công thc tính ch tiêu là:

 INR =  CBR  -    CDR , trong đó:

  INR =  Incra  Nature  Rate : Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (‰ - %);

  CBR =  Crude  Birth   Rate : Tỷ suất sinh thô (‰ hoặc %);

  CDR =  Crude  Death  Rate : Tỷ suất chết thô (‰ hoặc %).

Như vậy, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là hiệu số của tỷ suất sinh thô và tỷ suất chết thô. INR cao hay thấp thì phụ thuộc rất lớn của 2 chỉ số CBR và CDR, chứ không phụ thuộc vào một chỉ số. Nếu như CBR không giảm nhưng chỉ số CDR tăng thì chỉ số INR giảm; CBR không giảm mà CDR giảm thì INR tăng. Nếu CBR giảm và CDR giảm tương ứng thì INR không thay đổi; CDR tăng thì INR giảm. Tương tự, nếu CBR tăng và CDR giảm thì INR càng tăng.

Năm 2009 :

INR(0,965%) = CBR(1,585%) - CDR(0,620%);

Năm 2014 :    

INR(0,849%) = CBR(1,480%) - CDR(0,631%);

V d báo trong giai đon ti (2016-2020):  Khi mà tỉnh Quảng Ngãi đã đạt đến mức sinh thay thế số con bình quân của phụ nữ ≈ 2,1 con thì tỷ suất sinh thô CBR rất ít giảm (hầu như không giảm), thậm chí có thể tăng nhẹ; đồng thời các lĩnh vực kinh tế - xã hội phát triển thì cũng góp phần làm tỷ suất chết thô CDR giảm. Điều này có th dn đến INR tăng, nên việc đề ra chỉ tiêu: Tỷ l tăng dân s t nhiên ca tnh Qung Ngãi đến năm 2020 là 0,92% là phù hp.

4. V các nhim v ch yếu:

 Tại Điểm 1.3, trang 32 viết: “Phát triển dịch vụ, du lịch và kinh tế biển, đảo là nhiệm vụ trọng tâm” thì đa số thống nhất, tuy nhiên các chuyên gia cho rằng nếu nhìn vào tổng thể về 3 nhiệm vụ đột phá và 3 nhiệm vụ trọng tâm như Dự thảo báo cáo chính trị  đặt ra là đã bao quát toàn bộ các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trong giai đoạn tới của tỉnh, trong đó bao gồm 3 nhóm ngành trong cơ cấu kinh tế là: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và thêm nhiệm vụ đột phá về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; Về mặt xã hội các nhiệm vụ đột phá và trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực và cải cách hành chính. Như vậy, có thể làm cho mọi người có cảm giác là các nhiệm vụ đột phá, trọng tâm quá nhiều, quá dàn trải, có rất nhiều mũi nhọn như “quả mít” vậy, có thể làm ảnh hưởng cho việc cân đối nguồn lực của tỉnh vốn rất hạn hẹp, nhỏ bé, nên khó đạt được những mục tiêu kỳ vọng đề ra. Từ đó, các chuyên gia đề nghị nghiên cứu bỏ từ “dịch vụ” và viết lại thành câu: “Phát triển du lịch và kinh tế biển, đảo là nhiệm vụ trọng tâm” thì sẽ có cảm giác “nó” nhẹ nhàng, thanh thoát hơn rất nhiều. Tất nhiên, như vậy không có nghĩa là không chú trọng phát triển ngành dịch vụ trong giai đoạn tới, nhưng “phát triển dịch vụ” thực sự đã ẩn chứa trong quá trình phát triển công nghiệp, du lịch và kinh tế biển, đảo./.

 TS- Nguyễn Kim Hiệu - Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh Quảng Ngãi

(Theo Bản tin Khoa học và Đời sống số 3/2015)

 

 


THÔNG BÁO
LIÊN KẾT WEB
DANH NGÔN KHOA HỌC
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 1856911
Đang trực tuyến: 16