Ng.cứu và Ứ.dụng KH&CN >> Mô hình SX ứng dụng CN mới
(Đăng lúc: 19/12/2016 04:32:30 PM)
Đưa cua xanh giống sản xuất nhân tạo vào nuôi ao đất vùng triều
Xuất phát từ giá trị kinh tế cao của cua xanh, các xã vùng ven biển tỉnh ta đã hình thành nghề nuôi cua xanh, với các mô hình nuôi ghép cua xanh với cá Dìa, cua xanh với tôm sú, cua xanh với tôm chân trắng, cua xanh với cá chẽm, cua xanh với cá đối. Bước đầu mô hình đã cho hiệu quả kinh tế, tăng thêm doanh thu trên một đơn vị diện tích.

Thịt cua xanh là thức ăn cao cấp, rất được ưa chuộng ở Việt Nam và các nước trên thế giới do hàm lượng protein cao( 26,8%), lượng mỡ thấp (1,4%) và rất giàu khoán vi lượng( đặc biệt là calcium), kích thước lớn. Dù chế biến ở hình thức nào đơn giản hay cầu kỳ cua xanh luôn là nguyên liệu của các món ăn ngon. Trong nước cũng  như trên thế giới cua xanh chiếm một thị trường rất lớn, tùy theo kích cỡ, chất lượng cua mà có những giá trị khác nhau, trong đó cua gạch có giá trị cao nhất.

Cua xanh thương phẩm

Một số đặc điểm của cua xanh

Phân loại Ngành: Arthropoda; Lớp: Crustacea; Bộ phụ: Reptantia; Họ: Portunidae; Giống: Scylla; Loài: Scylla serrata.

Tập tính sống của cua xanh 

Vòng đời cua xanh trãi qua nhiều giai đoạn khác nhau và mỗi giai đoạn có tập tính sống, cư trú khác nhau.

Thời kỳ phôi thai được cua mẹ mang và phát triển ở vùng biển ven bờ. Ấu trùng Zoea và Mysis: sống trôi nổi và nhờ dòng nước đưa vào ven bờ biến thái thành cua con.

Cua con: theo thuỷ triều dạt vào vùng nước lợ: những bãi lầy ven bờ biển, cửa sông, nơi có đáy bùn, bùn cát hoặc đất thịt pha cát mịn giàu mùn bã hữu cơ thuộc vùng trũng, hạ triều chuyển từ môi trường nước mặn sang nước lợ. Cua bắt đầu sống bò trên đáy và đào hang để sống hay chui rúc vào gốc cây, bụi rậm.

Cua thành thục sinh dục: có tập tính di cư ra vùng nước mặn ven biển sinh sản.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh ta, đa số bà con nuôi cua chủ yếu mua cua giống từ khai thác tự nhiên, nên chất lượng cua giống không ổn định, con giống không đồng đều nên quá trình nuôi tỷ lệ sống thấp, cua không sử dụng được thức ăn công nghiệp; với nguồn cua giống sản xuất nhân tạo chọn được chất lượng cua giống tốt, chủ động về thời gian thả, số lượng, cua giống đồng đều về kích cỡ nên tỷ lệ sống cao, cua sử dụng tốt thức ăn công nghiệp. Vì vậy, đưa cua giống sản xuât nhân tạo vào nuôi thương phẩm ở các ao nuôi vùng triều nhằm tăng hiệu quả trên một đơn vị diện tích, giảm khai thác cua giống tự nhiên cân bằng hệ sinh thái.  

Hiện tại việc sản xuất giống cua xanh được Trại thực nghiệm sản xuất thủy sản Đức Phong ương thử nghiệm từ năm 2012. Đến nay quy trình kỹ thuật sản xuất tương đối ổn định, con giống sản xuất ra đảm bảo chất lượng, cung cấp 60% nhu cầu con giống trên địa tỉnh và bán ra các tỉnh như: Bình Định, Phú Yến, Đã Nẵng, Huế… được người nuôi đánh giá chất lượng con giống tốt và ổn định.

Nghề nuôi cua xanh thương phẩm đã phát triển một số năm gần đây, trong đó phát triển nuôi mạnh ở các xã Tịnh Kỳ, Tịnh Hòa thành phố Quảng Ngãi; Bình Đông, Bình Dương, huyện Bình Sơn. Chủ yếu các vùng này thả giống từ sản xuất nhân tạo, theo các hộ nuôi thả giống nhân tạo tỷ lệ sống cao đạt từ 50 – 70%, kích cỡ cua giống thả C1-2, sau thời gian nuôi 3 – 4 tháng cua đạt trọng lượng từ 200 – 300g/con. Với ao 2000m2 thu lãi 20 – 30 triệu đồng sau một vụ nuôi.

 

Cua xanh giống kích cỡ C-2

Tuy nhiên trong nuôi thương phẩm cua ở Quảng Ngãi vẫn còn một số bất cập đó là bà con chưa chú trọng đầu tư thâm canh vào nuôi cua, nguồn thức ăn của cua chủ yếu sử dụng mùn bã hữu cơ và thức ăn dư thừa của các đối tượng khác, thả giống giai đoạn đầu hầu như không cho cho ăn. Điều này ảnh hướng lớn đến tỷ sống của cua, hiệu quả kinh tế chưa cao. Một số vùng khác các xã ven biển huyện Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ người nuôi chủ yếu thả giống từ khai thác tự nhiên kích cỡ giống lớn (C7 – 10), thời gian thả giống bị động nên thả trong nhiều ngày mới đủ số lượng, kích cỡ giống không đồng đều nên tỷ lệ sống thấp. Cua giống sản xuất nhân tạo thường thả giống cỡ nhỏ C1-2 nên bà con chưa quen, còn e ngại. Với điều kiện ở trại ương không phù hợp để ương giống cỡ lớn vì thời gian ương kéo dài, tỷ lệ sống thấp, không hiệu quả, nên chỉ xuất bán cua giống cỡ nhỏ.

Sử dụng nguồn cua từ sản xuất nhân tạo có nhiều lợi thế, như chọn được nguồn cua có chất lượng, chủ động thời gian nuôi, kích cỡ đồng đều, tỷ lệ sống cao, cua ăn được thức ăn công nghiệp. Việc đầu tư đúng mức sẽ mang lại hiệu quả rất cao.

Thời gian đến, cần phải tiếp tục hoàn thiện quy trình nuôi, tuyển chọn nguồn cua mẹ có chất lượng về nuôi vỗ cho đẻ, sử dụng men vi sinh hạn chế sử dụng kháng sinh, tạo ra đàn cua giống kích cỡ đồng đều. Bên cạnh đó, các đơn vị chức năng như Trung tâm Giống, Trung tâm khuyến ngư v.v.. cần phải tăng cường quảng bá, hướng dẫn kỹ thuật nuôi cho bà con nông dân an tâm đầu tư chuyên canh, tăng hiệu quả sản xuất.

 Nguyên Khoa                                       

(Nguồn tham khảo: Nội dung báo cáo tại Hội nghị Phổ biến Kiến thức

do Liên hiệp Hội tỉnh phối hợp với Hội làm vườn tháng 11/2016)  

 


THÔNG BÁO
LIÊN KẾT WEB
DANH NGÔN KHOA HỌC
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 1854292
Đang trực tuyến: 30