Trao đổi
(Đăng lúc: 04/08/2016 07:46:59 AM)
Mô hình Tổ chức – Cán bộ Liên hiệp hội địa phương
Hơn 30 năm xây dựng và phát triển, trải qua 6 kỳ Đại hội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã từng bước khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng của một tổ chức chính trị - xã hội có hệ thống từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hệ thống tổ chức của Liên hiệp Hội ở Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được củng cố, tăng cường và không ngừng phát triển. Đến nay, Liên hiệp Hội Việt Nam đã có 141 hội thành viên (78 hội KH&KT ngành toàn quốc và 63 liên hiệp hội tỉnh/thành phố) với trên 2,5 triệu hội viên.

 Là một tổ chức có hệ thống 2 cấp ở Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Liên hiệp Hội Việt Nam rất quan tâm đến việc củng cố và phát triển các tổ chức trong hệ thống. Đến cuối năm 2014, Liên hiệp Hội Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phát triển liên hiệp hội ở tất cả 63 tỉnh, thành phố trong cả nước.

Thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị và thông báo số 353-TB/TW của Ban Bí thư Trung ương, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ động đề xuất với Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ xây dựng Đề án kiện toàn tổ chức bộ máy của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật ở Trung ương và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đề án kiện toàn tổ chức bộ máy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã được Ban Bí thư Trung ương thông qua và Bộ Nội vụ hướng dẫn Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện theo tinh thần công văn số 327/BNV-TCPCP ngày 19/01/2012.

Thời gian qua, nhiều liên hiệp hội địa phương đã xây dựng đề án kiện toàn tổ chức và được cấp ủy và UBND tỉnh tạo điều kiện để củng cố tổ chức bộ máy liên hiệp hội, giao biên chế và đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất để liên hiệp hội địa phương hoạt động.

Cơ cấu tổ chức và biên chế của liên hiệp hội địa phương sau khi kiện toàn tổ chức đã có những thay đổi nhất định. Trước khi có Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16/4/2010, bình quân mỗi liên hiệp hội địa phương có 5-6 cán bộ biên chế và hợp đồng. Sau khi có công văn số 327/BNV-TCPCP ngày 19/01/2012, nhiều Liên hiệp hội địa phương đã xây dựng đề án kiện toàn tổ chức và được UBND tỉnh phê duyệt. Đến nay, bình quân mỗi liên hiệp hội địa phương có 8-9 biên chế và hợp đồng. Đặc biệt, Liên hiệp Hội tỉnh Bình Phước có 23 người. Cùng với việc được bổ sung biên chế, nhiều liên hiệp hội địa phương được bố trí trụ sở và tăng cường trang bị thiết bị phục vụ công việc, kinh phí chi cho hoạt động cũng được quan tâm hơn.

Về bộ máy, theo số liệu thống kê của Ban Tổ chức-Cán bộ, đến tháng 6/2016, có 32 liên hiệp hội địa phương kiện toàn mô hình tổ chức bộ máy cơ quan thường trực gồm văn phòng và 2 ban chuyên môn, 9 liên hiệp hội địa phương kiện toàn mô hình tổ chức bộ máy cơ quan thường trực gồm văn phòng và 3 ban chuyên môn trở lên.

Thực tế hiện nay, số cán bộ của mỗi liên hiệp hội địa phương có tăng lên, nhưng thực chất mỗi ban hoặc văn phòng của liên hiệp hội địa phương chỉ có từ 2-3 người, chưa thực sự đảm bảo về mặt số lượng để đáp ứng được nhu cầu công việc. Theo số liệu khảo sát, số cán bộ làm việc tại cơ quan liên hiệp hội địa phương mới chỉ đáp ứng được khoảng 60-80% nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, vẫn còn có một số liên hiệp hội địa phương chưa có bộ máy hợp lý và số cán bộ cần thiết để làm việc, chỉ có một vài biên chế và hợp đồng, chưa được bố trí trụ sở, kinh phí làm việc (Liên hiệp hội Nam Định, Liên hiệp hội Hà Nam), nên việc thực hiện các nhiệm vụ của một tổ chức chính trị - xã hội gặp nhiều khó khăn.

Đến nay, liên hiệp hội  địa phương chủ yếu theo 2 loại mô hình: Chuyên trách và kiêm nhiệm.

- Mô hình chuyên trách gồm các loại chủ yếu:

+ Mô hình lãnh đạo chuyên trách, trong đó Thường trực và bộ máy giúp việc Liên hiệp hội trong độ tuổi lao động. Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký do Ban Thường vụ tỉnh ủy quản lý, cán bộ và người lao động được hưởng các chế độ như các sở, ban, ngành (công tác quy hoạch cán bộ, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ do tỉnh chỉ đạo). Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký được hưởng chế độ chính sách như công chức, chuyên viên được hưởng chế độ viên chức. Hiện nay, mô hình này đang có xu hướng tăng ở khá nhiều liên hiệp hội (LHH), nhất là các tỉnh phía Bắc (LHH Hải Dương, LHH Ninh Bình, LHH Thái Bình, LHH Phú Thọ, LHH Bắc Giang, LHH Hà Giang…).

Đối với mô hình này, chủ tịch liên hiệp hội làm việc theo chế độ chuyên trách ở trong độ tuổi lao động: Theo thống kê của Ban Tổ chức, có 20/63 liên hiệp hội có chủ tịch chuyên trách trong độ tuổi lao động. Trong số đó, khá nhiều chủ tịch là lãnh đạo của sở, ban, ngành trong tỉnh được điều động sang làm việc chuyên trách và bầu vào tại đại hội liên hiệp hội tỉnh (trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy, giám đốc/phó giám đốc sở KH&CN,...). Bên cạnh đó, cũng có một số địa phương, cán bộ chủ chốt của liên hiệp hội được bầu làm vị trí chủ tịch liên hiệp hội. Hiện nay, ở nhiều địa phương thực hiện công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, trong đó có các chức danh chủ tịch, phó chủ tịch, tổng thư ký liên hiệp hội.  

+ Mô hình lãnh đạo chuyên trách, trong đó, phần lớn thường trực liên hiệp hội là cán bộ lãnh đạo tỉnh ủy, UBND, lãnh đạo Sở, Ban ngành đã nghỉ hưu tham gia lãnh đạo chủ chốt được tỉnh ủy và UBND giới thiệu bầu tại đại hội. Lãnh đạo và chuyên viên các phòng ban của liên hiệp hội là lao động trong độ tuổi thuộc biên chế của liên hiệp hội hoặc là biên chế của Sở, ban, ngành kiêm nhiệm công tác hội. Mô hình này có khá nhiều ở các tỉnh phía Nam (LHH Cần Thơ, LHH Long An…).

Với mô hình này, Chủ tịch LHH làm việc theo chế độ chuyên trách là những cán bộ đã hết tuổi lao động (nghỉ hưu) ở cơ quan Đảng, chính quyền. Đến nay, có 27/63 địa phương có chủ tịch liên hiệp hội là cán bộ đã hết tuổi lao động (nguyên là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh hết tuổi lao động: bí thư tỉnh ủy, phó bí thư tỉnh ủy, chủ tịch UBND tỉnh, phó chủ tịch UBND tỉnh, hoặc lãnh đạo của sở, ban, ngành trong tỉnh, trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy,...).

- Mô hình kiêm nhiệm gồm:

+ Mô hình lãnh đạo kiêm nhiệm, trong đó Chủ tịch Liên hiệp hội là lãnh đạo tỉnh ủy, UBND và các sở, ban, ngành chuẩn bị nghỉ hưu chuyển dần sang để tiếp tục làm chuyên trách hội, thường trực và bộ máy giúp việc Liên hiệp hội trong độ tuổi lao động. Một số tỉnh có mô hình này: LHH Hưng Yên, LHH Thái Nguyên, LHH Sơn La .

+ Mô hình lãnh đạo kiêm nhiệm, trong đó phần lớn cán bộ lãnh đạo làm việc kiêm nhiệm tham gia hoạt động hội. Đối với mô hình hình này, bộ máy lãnh đạo, quản lý gắn khá nhiều với hình thức hoạt động kiêm nhiệm. Đây là mô hình đặc trưng đối với khá nhiều Liên hiệp hội mới thành lập và đi vào hoạt động. Có thể nói Liên hiệp hội Hà Nam, Nam Định là điển của mô hình này.

Theo mô hình này, thường là cán bộ lãnh đạo chủ chốt đương chức của tỉnh kiêm nhiệm giữ chức chủ tịch liên hiệp hội tỉnh. Đến nay, trong số 63 Liên hiệp hội địa phương có 16 Chủ tịch liên hiệp hội địa phương là lãnh đạo các cơ quan ban ngành của tỉnh (trong đó 06 đồng chí hiện là Phó bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch/Phó Chủ tịch UBND tỉnh, 08 đồng chí là lãnh đạo sở ban ngành: Trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy, Giám đốc/Phó Giám đốc sở KH&CN và 02 đồng chí là hiệu trưởng và quản lý trường đại học...).

Đối với các liên hiệp hội địa phương có đảng đoàn, chủ tịch liên hiệp hội địa phương đồng thời là bí thư đảng đoàn liên hiệp hội địa phương. Hiện nay, có 48/63 liên hiệp hội địa phương có đảng đoàn.

Đặc điểm mô hình tổ chức bộ máy của liên hiệp hội địa phương khá đa dạng, do đó cũng có những ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả hoạt động của liên hiệp hội. Để góp phần xây dựng Liên hiệp Hội ở Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở thành tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh vào năm 2020, vấn đề tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và lãnh đạo của các liên hiệp hội địa phương có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật, cần nghiên cứu và đề xuất mô hình tổ chức - cán bộ của liên hiệp hội địa phương trên cơ sở phân tích nghiên cứu mô hình hoạt động có hiệu quả, cũng như những mô hình hoạt động, triển khai công việc gặp nhiều khó khăn. Từ đó rút ra mô hình phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của liên hiệp hội trong điều kiện hiện nay ở nước ta.

Tác giả bài viết: Bùi Kim Tuyến Ban Tổ chức – Cán bộ

THÔNG BÁO
 Kết luận của Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Đặng Văn Minh tại buổi làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi về tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2016 và triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2017

 Quyết định 266/QĐ-BTC ngày 22/11/2016 V/v ban hành Thể lệ Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng toàn quốc tỉnh Quảng Ngãi năm 2017

 Quyết định số 184/QĐ-BTC ngày 18/8/2016 của Ban Tổ chức Cuộc thi phê duyệt danh sách các đề tài đạt giải trong Cuộc thi Sáng tạo TTN NĐ toàn quốc tỉnh Quảng Ngãi năm 2016

 Quyết định số 52/QĐ-BTC ngày 10/3/2016 của Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi về việc ban hành Thể lệ Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi lần thứ 10(2016-2017)

 Quyết định số 53/QĐ-BTC ngày 10/3/2016 của Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi về việc ban hành Thể lệ Cuộc thi thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh Quảng Ngãi năm 2016

 Quyết định số 346/QĐ-UBND ngày 07/3/2016 V/v Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật và Ban Tổ chức Cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng toàn quốc hàng năm tỉnh Quảng Ngãi

 Quyết định số 183/QĐ-UBND ngày 27/01/2016 về việc thành lập Ban Tổ chức Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng toàn quốc hàng năm tỉnh Quảng Ngãi

LIÊN KẾT WEB
DANH NGÔN KHOA HỌC
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 1736437
Đang trực tuyến: 61