Trao đổi
(Đăng lúc: 22/02/2016 08:53:58 AM)
Cần tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ
Vấn đề đặt ra với các nhà quản lý là làm sao đạt được kết quả hoạt động khoa học và công nghệ cao nhất, trong điều kiện nguồn lực có hạn? Đối với quản lý Nhà nước, câu hỏi đặt ra là sử dụng nguồn ngân sách có hạn thế nào để đem lại nhiều lợi ích nhất cho hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ cộng đồng?

 

Để trả lời câu hỏi này, mỗi Nhà nước có cách quản lý nguồn tài chính riêng và đem lại hiệu quả rất khác nhau, tuỳ mục tiêu phát triển, điều kiện  kinh tế-xã hội, trình độ quản lý, kỹ thuật và công nghệ của mỗi nước. Cách quản lý tài chính truyền thống được nhiều nước áp dụng là cách quản lý ngân sách Nhà nước theo đầu vào. Cách quản lý này rất khó  đánh giá kết quả và hiệu quả sử dụng Ngân sách, không tạo động lực tự chủ, tự chịu trách nhiệm và phát huy tính sáng tạo của người sử dụng ngân sách .Vì vậy, cách quản lý này làm lãng phí nguồn lực tài chính, tài sản cũng như nguồn lực con người.

Trong điều kiện hội nhập toàn cầu cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, yêu cầu phát triển kinh tế thị trường đòi hỏi các Nhà nước  phải thay đổi cách quản lý tài chính công nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực có hạn. Xu hướng chuyển đổi quản lý tài chính công từ quản lý đầu vào sang quản lý theo đầu ra và kết quả hoạt động, đang diễn ra ở hầu hết các nền kinh tế mới nổi

Việt Nam đang trên con đường cải cách hành chính để phát triển nền kinh tế thị trường . Một trong những sự cải cách rõ nhất đó là đổi mới cơ chế quản lý đối với các tổ chức Khoa học và Công nghệ, quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức nghiên cứu khoa học nói riêng, tổ chức Khoa học và Công nghệ nói chung.

Mục tiêu của quản lý tài chính công được xác định bởi Luật Ngân sách và các văn bản quy phạm liên quan là  " Quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách và tài sản của Nhà nước, tăng tích lũy nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại".  

Trong lĩnh vực KH&CN, Nghị định số 115 /NĐ-CP ngày 5 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập được coi là một bước đột phá trong việc chuỷển đổi quản lý Ngân sách theo đầu vào sang quản lý theo đầu ra.

Theo Nghị định này, cơ chế quản lý ngân sách theo đầu ra và kết quả hoạt động  trước hết đã đảm bảo hiệu quả phân bổ Ngân sách. Đó là: phân bổ ngân sách đã  căn cứ vào định hướng ưu tiên phát triển Khoa học Công nghệ của Nhà nước trong đó danh mục các nhiệm vụ Khoa học Công nghệ được Bộ Khoa học Công nghệ các Bộ, ngành và địa phương công bố hàng năm. Nó thỏa mãn yêu cầu chi ngân sách đúng mục tiêu, đúng địa chỉ.

Thứ hai, nó đảm bảo quyền tự chủ, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của  tổ chức KH&CN. Việc giao quyền cho tổ chức KH&CN tự chủ huy động, sử dụng nguồn lực tài chính, tài sản, con người  đã góp phần  nâng cao năng  lực cạnh tranh trong đấu thầu, tuyển chọn các nhiệm vụ KH&CN. Với quyền lập quy chế chi tiêu nội bộ, quyền tự quyết định hợp tác với các các nhân và tổ chức khác  đã tạo cho tổ chức KH&CN chủ động trong các kế hoạch phát triển trung và dài hạn của mình cũng như tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao hay hợp tác

Thứ ba, nó đảm bảo quyền tự chịu trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức, hạn chế núp bóng tập thể để lẩn tránh trách nhiệm.  Thủ trưởng tổ chức KH&CN phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về sản phẩm nghiên cứu, kết quả hoạt động nghiên cứu của tổ chức mình và chịu trách nhiệm cá nhân trước các sai phạm của tổ chức mình

Tuy nhiên cơ chế quản lý tài chính mới này cũng còn có một số nhược điểm. Trước hết là việc quản lý đầu ra chưa thực sự hiệu quả do chưa xây dựng được các tiêu chí cụ thể đánh giá chất lượng và hiệu quả của hoạt động khoa học và công nghệ nói chung và các tổ chức khoa học và công nghệ nói riêng. Việc thiếu các tiêu chuẩn thống nhất đánh giá sản phẩm KH&CN khiến cho việc quản lý KHCN gặp nhiều khó khăn và gây nên những mâu thuẫn không đáng có giữa nhà khoa học với cơ quan quản lý và người sử dụng..

Thứ hai chưa thực sự tạo động lực để phát huy năng lực sáng tạo của cán bộ khoa học và công nghệ.  Chế độ tiền lương còn bất hợp lý, chưa gắn với kết quả nghiên cứu do đó không khuyến khích cán bộ khoa học toàn tâm toàn ý với sự nghiệp khoa học và công nghệ. Đặc biệt, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe đối với những sai phạm trong hoạt động khoa học và công nghệ.

Thứ ba chưa đảm bảo được các kế hoạch trung và dài hạn  hạn của tổ chức KH&CN. Mặc dù quy định các tô chức nghiên cứu Khoa học xây dựng kế hoạch nhiệm vụ nghiên cứu 5 năm, tuy nhiên kinh phí lại cấp hàng năm và nhiều khi còn cấp thiếu do đó làm giảm tính chủ động trong việc lập kế hoạch hoạt động nghiên cứu của tổ chức KH&CN

Thứ 4, Yêu cầu đảm bảo tính niên độ của Ngân sách không phù hợp với  hoạt động nghiên cứu khoa học. Theo quy định của Luật ngân sách, năm ngân sách đòi hỏi các khoản chi phải được quyết toán trước 31/12 hàng năm. Vì vậy đối với nhà khoa học việc hoàn chỉnh các chứng từ quyết toán đôi khi là là một việc khó khăn không thực hiện đúng hạn đuợc. Đôi khi thời gian làm chứng từ lớn hơn thời gian nghiên cứu (!)

Thứ 5 Cơ chế kiểm tra giám sát hoạt động KH&CN thiếu cụ thể, thiếu tính khoa học:Quy định thủ tục hành chính quá rườm rà, không sát thực tế đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng nghiên cứu và có thể tạo cơ hội cho sự lạm quyền, vi phạm quy định chi tiêu ngân sách KH&CN

Nền kinh tế đất nước đang hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Triển vọng tham gia TPP đang tạo ra nhiều cơ hội cho nền KH&CN tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Những  cơ hội và thách thức hội nhập đòi hỏi cơ chế và phương thức quản lý Nhà nước phải thay đổi đề phù hợp với thông lệ quốc tế. Đòi hỏi này tất yếu dẫn đến phải hoàn thiện hơn nữa cơ chế tài chính cho KH&CN, khắc phục những nhược điểm nói trên để giải phóng sức sáng tạo của giới khoa học&công nghệ cũng như tăng cường năng lực cạnh tranh của các tổ chứcKH&CN Việt Nam. Chỉ có như vậy mới rút ngắn khoảng cách tụt hậu của KH&CN Việt Nam so với các nước trong khu vực ASEAN.

Tài  liệu tham khảo:

1. Quản lý chi tiêu công- MPPM sách dịch Ngân hàng Châu Á (ADB) năm 1999

2. Những vấn đề cốt yếu của quản lý- Harold Koontz Nhà XBKH& KT Hà Nội -1994

3..Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 của Quốc Hội. nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa việt Nam

4. Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của chính phủ

5. Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của chính phủ

6.Nghị định số 115 /NĐ-CP ngày 5 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ

7.Thông tư liên tịch số: 12/2006/TTLT/ BKHCN-BTC-BNV ngày 5 tháng 12 năm 2006

 Tác giả bài viết: Th.S Nguyễn Thị Thanh Hà Viện Khoa học Lao động và Xã hội

Nguồn: Vusta


THÔNG BÁO
LIÊN KẾT WEB
DANH NGÔN KHOA HỌC
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 1856916
Đang trực tuyến: 21